Giấc mơ có mùi rơm rạ

Tôi vẫn mơ có được ba sào ruộng, một sào để trồng lúa nếp, hai sào còn lại trồng lúa tám thơm. Tôi mơ có một căn nhà ngang vách đất trộn rơm, mái lợp rạ nếp, bên ngoài có sân lát gạch lá nem để phơi thóc, bên trong đặt một chiếc cối xay lúa quay tay, một cối giã gạo bằng đá xanh cần cối nặng làm bằng gỗ nghiến, một hòm đựng thóc làm bằng gỗ mít cùng rất nhiều nong nia thúng mủng giần sàng. Để tôi mơ năm hai vụ lúa, được gặt lúa chở về nhà rồi đập lúa phơi thóc ngoài sân, được đánh cây rơm ngay sau chái bếp, được cùng người nhà xay lúa giã gạo, được ăn cơm thổi bằng gạo mới do chính tay mình làm ra nấu trong nồi đồng điếu vần rơm, đêm lạnh trải chiếu trên ổ rơm để được vùi đầu vào giấc ngủ đông thơm mùi rơm nếp…

Mấy năm nay mỗi khi về Núi Đông, vào lúc đêm khuya thỉnh thoảng tôi vẫn lững thững đi bộ chui qua đường cao tốc sang khu công nghiệp liền kề với khu đô thị mới. Sang không phải để chiêm ngưỡng cái kỳ tích của công cuộc công nghiệp hoá hiện đại hoá ở một vùng quê thuần nông mà là để “thương nhớ đồng quê” như cách nói của anh Nguyễn Huy Thiệp. Lững thững trên những con lộ trải nhựa thẳng tắp vắng tanh vắng ngắt, tôi hình dung những gì đang nằm sâu dưới lớp nhựa đường, lớp sân nền nhà xưởng, văn phòng, dưới những dãy biệt thự mới xây xong phần thô bỏ hoang mấy năm nay vì không có người mua. Dưới đó là cánh đồng. Gốc rạ nằm dưới đó ư, hoa cỏ nằm dưới đó ư? Cùng với rơm rạ cỏ hoa là cào cào châu chấu, là họ hàng nhà chuồn chuồn nhà bướm, là cánh cam, niềng niễng, chèo đò. Còn cả ếch, nhái, chẫu chuộc, lươn, chạch, cua đồng, rắn nước… Tất cả đã yên nghỉ dưới đó vĩnh viễn. Cả một cuộc sống có tự hàng nghìn năm đã biến mất cùng với rơm rạ không để lại một dấu tích. Chỉ có lũ dế có khả năng sống cùng với bê tông, gạch đá là thoát chết. Chúng rỉ rả hát cho tôi nghe bài hát đêm buồn.

Vẫn biết buồn thế là sai. Nhưng tôi sinh ra ở nơi lúa mọc, có cả một ký ức sâu nặng thơm phức mùi rơm rạ, dù năm tháng sống cùng nó không nhiều. Thuở bé hồi còn học tiểu học, tuy đã theo gia đình về sống ở thành phố nhưng chẳng hè nào là tôi không về quê. Suốt ngày tha thẩn ngoài cánh đồng làng, lúc ngồi ở quán ngói chơi với lũ trẻ chăn trâu, lúc lang thang trên bờ ruộng, bờ mương, bờ máng; có khi mò mẫm lặn lội tới tận rốn đồng sống với lúa má, hoa cỏ, cây cối, chim chóc để đến bây giờ tôi vẫn còn có thể nhớ tên rất nhiều loại cỏ dại (cỏ năn, cỏ lác, cỏ may, cỏ gấu, cỏ gà, cỏ voi, cỏ dầy, cỏ gừng, cỏ mần trầu, cỏ mật), rất nhiều loài chim (sẻ đồng, sáo sậu, sáo đá, chào mào, bách thanh, chìa vôi, giẻ quạt, bói cá, chim chả, chèo bẻo, ác là, quạ khoang, diều hâu, cút đồng, nâm nấp, cò bợ, cò lửa, giang, sếu, vịt trời, cốc, bồ nông, uyên ương…). 

Trước ngày giải phóng thủ đô, tháng 8.1954 tôi theo bố mẹ về quê, sống ở đó bốn năm trong thời kỳ cải cách ruộng đất và sửa sai. Bốn năm thật ngắn ngủi nhưng tôi được cải tạo để trở thành người nhà quê thật sự. Ăn đói mặc rách, người gầy gò vêu vao vẫn lội bùn ruộng kéo cày thay trâu, cuốc đất ruộng trồng màu, đi đào ao, đào mương, đào máng, đắp đê vác đất quần quật nhưng quan trọng là vẫn yêu nhà quê như thuở nào, và còn yêu hơn thế bởi gắn bó bây giờ mới là gắn bó máu thịt. Một tình yêu mơ hồ pha trộn sự thơ mộng với những khổ đau, cay đắng, với mồ hôi nước mắt, pha trộn giữa thái độ chấp nhận thực tại khi biết rằng cuộc sống là như thế chứ không thể khác và những giấc mơ nhiều khi chỉ là mơ tưởng của ngày ấy đã làm thành tôi bây giờ. Và chỉ đến bây giờ tôi mới ý thức được điều đó một cách rõ ràng.

Ngoài sáu mươi tuổi, mỗi lần ra Bắc, khi bước chân xuống sân bay Nội Bài, nhất là trong buổi chiều đông giá lạnh, tôi mới thấm thía hết cái cảm giác được trở về của một kẻ đã đi quá xa cái nơi chốn mình sinh ra, cái tuổi thơ quý giá của đời mình. Ngồi trên xe từ Nội Bài về Hà Nội, nhiều khi ký ức trỗi dậy, tôi giống như đi trong mơ. Về Hà Nội mà như về Vân Đình, cái nhà quê thuở nhỏ. Đi trên đường cao tốc phẳng lì mà bâng khuâng tỉnh lộ 22 xa thẳm lóc cóc ổ gà, lờ mờ hàng xà cừ cổ thụ hai bên đường, cánh đồng sương phủ, những lều quán xưa cũ dưới gốc đa, gốc gạo; ngã tư Vân Đình, con phố nhỏ có vỉa hè xây bằng gạch rộng ba bốn gang tay, chiếc cầu gạch có tuổi sáu thế kỷ gọi là Cầu Chỗ… Tôi vẫn biết nhớ nhung như thế với ai đó là chuyện lẩm cẩm, nhưng với tôi thật quan trọng. Nó giúp tôi nối ngày hôm nay với ngày hôm qua, nối hiện tại với quá khứ. Không có ký ức, không nhớ nhung nghĩa là không quá khứ. Đánh mất quá khứ thì làm gì có tương lai. Mà điều quan trọng hơn là cái ký ức luôn sống dậy trong tôi là nhà quê, một ký ức ngát thơm mùi rơm rạ. Đánh mất nhà quê liệu tôi có còn là một người Việt Nam?

Bởi thế tôi vẫn mơ mình có ba sào ruộng, một căn nhà ngang vách đất trộn rơm, mái lợp rạ nếp, mơ có cây rơm bên trái nhà, mơ đêm lạnh trải chiếu trên ổ rơm để được vùi đầu vào giấc ngủ đông thơm mùi rơm nếp… Điều có vẻ rất dễ thực ra lại là rất khó trong thời buổi này.

“Ồ, có tiền làm gì mà chẳng được. Giấc mơ của ông đáng giá vài trăm triệu thôi”

Này bạn, liệu giấc mơ của tôi có thể mua được bằng tiền không nhỉ?

Dương Thụ ảnh Trần Việt Đức

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: