Cơm tấm Bà Ba ra biển lớn

Quán cơm tấm Bà Ba nằm ở con đường một chiều dẫn đến sở làm của tôi, con đường có lá me bay vào những chiều cuối năm, như chiều nay. Mỗi tuần, tôi ăn sáng ở đó ít nhất ba lần. Vì sao ư? Vì chỉ ở đó, tôi tìm được hương vị cơm tấm thời thơ ấu, mỗi buổi sáng cắp sách đến trường, từ lớp năm, rồi tư, ba, nhì, nhất. Cơm tấm Bà Ba là từ gạo tấm thật, hạt nhuyễn nhứt giống như hồi xưa. Thời nay, gọi là cơm tấm, nhưng làm gì có tấm! Thời xưa, tấm là tấm, gạo là gạo; ăn sáng, dù là ăn cơm, cũng không thể giống với những bữa khác trong ngày. Chỉ nhà nghèo hoặc ở nhà quê mới ăn ngày ba bữa cơm gạo giống nhau, nấu tại nhà. Cũng không ai ăn cơm tấm vào buổi trưa hay chiều.

Bà Ba năm nay ngoài bảy mươi, tóc trắng phau, lưng đã hơi còng. Quán mở tại nhà, không bảng hiệu, chỉ có ba người phục vụ. Ngoài bà Ba còn hai cô gái chừng trên dưới ba mươi tuổi, một cô ốm nhom, một cô mập ú, không biết là con hay cháu. Hai cô không đẹp, nhưng có duyên, và đều hiền lành, chất phác và chăm chỉ. Bà trực tiếp đơm cơm và lấy thức ăn cho khách, một cô quạt lửa nướng sườn, cô kia bưng dọn. Thực khách của bà Ba không thuộc loại sang, cũng không quá “bèo”, phần đông là công nhân, học sinh, sinh viên, công chức quèn như tôi và một số khách quen lâu năm là người cùng xóm. Thức ăn ở quán Bà Ba gồm bốn thứ: bì, sườn, chả, ốp-la. Thức ăn quán cơm tấm Bà Ba ăn cũng tạm được như nhiều quán bình dân khác, nước mắm pha cũng khá, duy có món sườn thì ngon đặc biệt. Sườn nướng ăn mềm nhưng không bở, vị đậm nhưng không mặn, thơm một mùi thơm đặc biệt, không giống bất kỳ quán nào trong thành phố mà tôi đã từng ăn. Lại còn nước trà lá dứa nóng thơm miễn phí với những chiếc ly sạch.

Một chiều cuối năm như chiều nay, tôi phóng xe mô tô đi làm, chợt nhìn thấy bà Ba đang ngồi dưới đất, lúi húi xắt những lát thịt sườn hồng tươi, còn hai cô gái thì sàng sẩy gạo, lượm thóc, sỏi. Nhìn dáng lưng hơi còng với mái tóc bạc trắng phất phơ, tôi chợt nao lòng nhớ tới má tôi đang sống một mình ở một làng quê xa. Bà Ba và má tôi hao hao giống như hai chị em. Tò mò, tôi dừng xe, ghé vào.

– Bác ơi, bác xắt thịt để ướp cho ngày mai hả bác? Sao bác phải làm sớm vậy?

– Phải ướp từ chiều nay, để gia vị thấm vào cho đến sáng sớm mai thì nướng lên mới ngon.

– Sao bác không giao các các cô này làm, bác chỉ đạo là được rồi.

– Tụi này xắt thịt miếng mỏng, miếng dày, ướp thịt thì khi mặn chát, khi ngọt ngay, chắc khách bỏ đi hết. Bác phải tự tay làm thì mới ngon, cháu ạ. Ngay nấu cơm bằng tấm rặt cũng khó ngon lắm, nên nhiều người nấu cơm thường cho rồi.

– Bác già rồi, làm nhiều mệt lắm, phải tập cho các cô này thay bác chứ.

– Chừng nào nằm xuống hẵng hay. Còn làm được mà ngồi không khó chịu lắm.

– Tụi em la hoài mà không ăn thua đó anh ơi! Hai cô kêu lên.

Vậy đó, sáng năm giờ đã nướng mẻ sườn đầu tiên, chiều ba giờ lại loay hoay xắt thịt, ướp thịt, ngoài bảy mươi vẫn chưa chịu nghỉ. Lại nhớ má tôi dưới quê cũng tất bật suốt ngày như thế, dù chỉ có một mình.

Bẵng đi hơi lâu, tôi đi dự một khoá huấn luyện ở nước ngoài, suốt hai tháng ăn cơm “Tây”, lâu lâu chêm mì gói, nhớ cơm tấm Bà Ba không tưởng nổi. Vừa về hôm trước, hôm sau đi làm, tôi ghé ngay vào quán Bà Ba. Không thấy Bà Ba, chỉ thấy hai cô gái và một bà phụ việc. Chắc bà bệnh, như đôi khi cũng xảy ra, dù rất hiếm. Nhấm nhá một miếng sườn nướng, tôi chợt thấy mùi vị không như trước, nước mắm pha cũng hơi mặn. Khi tính tiền, tôi hỏi nhỏ “cô ốm”:

– Bác Ba đâu rồi? Bệnh hả?

– Má em mất hơn một tháng rồi, anh ơi!

Tôi bàng hoàng, sửng sốt, như vừa nghe tin mất một người thân. Tôi hỏi thăm mọi chuyện, kể cả chuyện giờ đây ai xắt và ướp thịt, khách ăn lâu nay có bị giảm. “Cô ốm” chợt luyên thuyên một thôi không dứt:

– Em làm hết chứ ai. Nói vậy chứ má cũng dạy đủ nghề rồi, kể cả công thức ướp thịt gia truyền. Anh biết không, lúc lâm chung, má nói chết thì yên rồi, sợ nhất con không giữ được nghề, thời này mấy ai biết cái ngon của dĩa cơm tấm rặt như anh. Mà lâu nay anh đi đâu, không thấy lên ti vi nữa?

– Em có thấy anh lên ti vi? Coi chừng lộn người khác đó.

– Trời ơi, anh chớ ai. Thấy anh nói hoài. Nào là hội nhập, “vê kép tê ô”… Má khen anh nói chuyện dễ nghe, dốt như em với “con mập” mà còn hiểu. Nhưng mà anh ơi, ở nước ngoài có cơm tấm giống nước mình hôn anh? Liệu họ có vô đây mở quán cạnh tranh với mình không? Em thấy phở mà còn bị nước ngoài vô mở quán, huống chi cơm tấm!

– Nước ngoài không ăn sáng bằng cơm tấm, nhưng dù có thì làm sao mà cạnh tranh nổi với cơm tấm Bà Ba!

– Ừ, anh nói đúng. Hổm rày có mấy người “Tây” qua bên mình học, ghé ăn thử, vừa ăn, vừa học tiếng Việt, riết rồi ghiền, mê nhất là cơm sườn chan nước mắm pha, ghé hoài hà!

Mỗi tuần tôi vẫn ghé lại quán cơm Bà Ba, nhưng chỉ một, thỉnh thoảng hai lần, phần vì thấy không còn giống cơm tấm như ngày xưa, phần cứ thấy bùi ngùi nhớ bà Ba, nhớ má… Khách vẫn đông, thậm chí đông hơn trước, lại có cả khách “Tây”. Chiều nay, một chiều cuối năm, tôi phóng xe đến sở trong làn gió xuân nhè nhẹ, làm những chiếc lá me già bay táo tác. Ngang quán Bà Ba, nhìn thấy dáng “cô ốm” ngồi xắt thịt, sôi nổi nói chuyện gì với “cô mập”, rồi cười với nhau khúc khích. Tự nhiên, tôi không còn bùi ngùi nữa mà lại thấy vui. Cơm tấm Bà Ba đã được nối nghiệp, lại còn thu hút cả khách “Tây”. “Cô mập” chợt nhìn thấy tôi, gọi với theo:

– Mai ghé nha, anh Hai!

– Ừ, mai ghé.

Sài Gòn, cuối năm Bính Tuất

Trương Nguyễn – ảnh Phan Quang

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: