Chạy khỏi phở Hai Ghế, lên với Côn Sơn và Yên Tử

Chặng đường sắp tới dự kiến ít nhất là một tuần. Trưởng đoàn Nguyễn Duy tuyên bố tất cả va-li cứng đều phải gửi lại, tạo chỗ ngồi thoải mái cho mọi người. Đường đi sẽ gian nan hơn đoạn đường đã qua, bởi đó là Đông Bắc và Tây Bắc, toàn rừng núi. 5 giờ sáng, các phòng đã rục rịch thu xếp để chỉ mang theo những vật dụng thật thiết yếu.

Phở Hai Ghế tan hàng

Phở Hai Ghế phải cúi sát ăn nóng mới ngon

Phở Hai Ghế tan hàng khi xuất hiện bóng dáng mấy anh cảnh sát trật tự.

Đoàn tạm biệt Hà Nội bằng bữa ăn sáng tại phở Tư Lùn, còn gọi là phở Hai Ghế, trên phố Hai Bà Trưng, địa chỉ mà Nguyễn Duy đã có lần tuyên bố là hàng phở dân dã ngon nhất đất Hà thành. Sở dĩ có cái tên Hai Ghế là vì ở đây không có bàn ăn, thực khách ngồi trên một ghế thấp, còn tô phở được đặt trên một ghế cao, để tiện bề khi cảnh sát tới “hỏi thăm”, cứ tay ghế tay tô mà chạy. Muốn ăn phở Hai Ghế phải đến sớm, vì ở đây chỉ bán độ từ trước 6 đến 7 giờ là chấm dứt. Khi chúng tôi đến cũng đã hơn 6 giờ 40, nhưng quán phở đặc kín hai hàng dài thực khách từ người già tới trẻ em, ngồi lúp xúp dưới mái tăng che dọc vỉa hè. Hàng phở không hề có bảng hiệu, đặt trong hẻm nhỏ với nồi nước dùng sôi sùng sục bên chị chủ hàng thoăn thoắt đôi tay. Quả tình phở ở đây rất ngon, bánh phở mềm dai, nước phở ngọt béo nhưng không ngậy mà lại rất nóng sốt, miếng nạm gàu thái mỏng vừa mềm vừa giòn. Cả đoàn đang cắm cúi xì xụp thì bỗng thấy nhà phở bắc ghế, bắc thang cuốn mái tăng che, còn thực khách thì nháo nhào đứng lên, nhiều người tay tô, tay ghế chạy vào hẻm. Ngẩng lên đã thấy bóng đồng phục của mấy người cảnh sát. Phản xạ nghề nghiệp khiến chúng tôi móc ngay máy quay phim, máy ảnh. Chị chủ hàng níu tay chúng tôi nài nỉ: “Xin các bác đừng có quay phim, chụp ảnh để chúng em còn làm ăn”. Còn đang đứng ngẩn ngơ thì đã nghe tiếng còi xe thúc giục. Thế là chúng tôi thu máy lên đường, vẫn còn tiếc rẻ tô phở ngon dang dở.

Một vùng linh địa

Đền thờ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn nhìn từ đền Trần Nguyên Đán

Xe qua cầu Uông Bí một đoạn, đột ngột ngoặt vào làng Trại Sen. Thì ra vùng linh địa này không chỉ lưu giữ dấu tích các đấng quân vương của nhà Trần, nhà Hậu Lê; của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm mà còn cả vị danh sư bậc nhất nước Việt: Chu Văn An. Con đường nhựa dẫn vào đền thờ và lăng mộ Chu Văn An cũng mang tên ông quanh co qua những tường ngõ, những vườn vải đang trắng mùa bông. Đền thờ Chu Văn An nhỏ nhắn nhưng thâm nghiêm, nằm chênh vênh trên một triền đồi.

Dưới chân núi Côn Sơn hôm nay là một bãi đất mênh mông san sát xe cộ. Con đường dẫn lên núi rộng rãi, lát đá khang trang, dập dìu người đi viếng. Đông đảo nhất là đồng phục học sinh nhiều trường trung học của cả Hải Dương, Quảng Ninh và Hà Nội. Đền thờ Nguyễn Trãi bên dưới và đền thờ của Trần Nguyên Đán bên trên đều được xây mới to rộng, nhưng vẫn mang vẻ cổ kính. Chúng tôi dừng lại ở lưng chừng núi, nơi nền nhà xưa của Nguyễn Trãi. Nhìn xuống bên dưới là hồ Côn Sơn thơ mộng với một vùng rộng lớn những vườn vải bao quanh. Cái vườn Lệ Chi ngày ấy là ở đâu trong vùng xanh thăm thẳm này? Âm vang trong đầu tôi hai câu kết trong bài thơ Viếng Côn Sơn của Nguyễn Duy: Mắt cứ nhìn đăm đăm vào bia đá/ Ruột gan thì để ở Lệ Chi Viên. Từ nền nhà cũ này của Nguyễn Trãi, ngược lên 1.800 mét nữa là am Bạch Vân, nhưng chúng tôi đành lui gót vì không còn đủ thì giờ.

Cách nhau chẳng bao xa, trong khi bên Côn Sơn nắng hanh thì Yên Tử trời lại mưa lất phất. Tấm băng-rôn bên đường có dòng chữ “hội xuân Yên Tử” đã phai màu nhợt nhạt mà du khách thì vẫn dập dìu chen chân. Mỗi người nửa ổ bánh mì và trái bắp nấu trên tay, chúng tôi tiến thẳng vào nhà ga cáp treo. Thoáng chốc chúng tôi đã có mặt ở nhà ga trên lưng chừng núi. Từ đây lên chùa Hoa Yên còn mấy đoạn dốc đá. Bậc đá trơn trợt, người đi chen chân trong mây, Nguyễn Duy bước thấp bước cao nhưng vẫn luôn vượt lên trước. Anh chỉ những lối mòn mờ cũ trên triền dốc nói rằng, cách nay chưa tới mười năm làm gì có những bậc đá này.

Đặc sản măng trúc của rừng Yên Tử

Đây là lần thứ tư Nguyễn Duy trở về với Yên Tử. Năm 2000, sau nhiều cuộc triển lãm thơ mình trong và ngoài nước, Nguyễn Duy nói, anh nhận ra hình thức này tiềm tàng khả năng một con đường rất ngắn lôi cuốn nhiều người, cả những người không đồng ngôn ngữ, nhanh chóng tiếp cận văn chương và văn hóa Việt. Anh nghĩ đến Nguyễn Trãi, Nguyễn Du và tiếp theo sẽ là Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Bỉnh Khiêm… Nhưng rồi anh lại nghĩ đến cái gốc sâu xa hơn, đó là thời Lý-Trần. Do sự thái bình thịnh trị lâu dài của hai triều đại này mà tinh hoa thi ca mang bản sắc văn hoá và một tinh thần triết học thuần Việt có được cơ hội phát triển rực rỡ, dù chúng được viết bằng chữ Hán. Anh cũng thú thật rằng, những năm đại học anh cũng có học qua thơ văn Lý-Trần, nhưng cả người dạy và người học khi đó đều tiến hành nó một cách vội vã, qua loa. Thời học ấy chỉ còn lưu lại trong trí nhớ anh duy nhất bài tứ tuyệt “Ngôn hoài” của Thiền sư Không Lộ, với hai câu ám ảnh: Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh/ Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư (Đôi khi thượng đỉnh núi hoang/ Buông dài một tiếng hú vang lạnh trời – Nguyễn Duy dịch). Khi bắt tay vào việc, lần giở lại từng trang cổ thi càng lúc anh càng nhận ra đây không chỉ là kho báu thi ca, nó còn là một túi khôn thâm sâu mà cha ông ta đã đúc kết, giữ gìn cho dân tộc như lời nhắn gởi hậu thế của ông vua thi sĩ Trần Nhân Tông (1258-1308) trong bài “Cư trần lạc đạo”: Nhà ta châu báu thiếu gì/ Vô tâm với cảnh biết khi nào thiền (Nguyễn Duy dịch). Thế là ý tưởng thực hiện tập thơ thiền ba ngôn ngữ Hán, Việt, Anh in trên giấy dó có kích thước đồ sộ 68×108 cm của anh ra đời. Cuối năm 2001, Nguyễn Duy âm thầm thực hiện chuyến hành hương chân đất lên Yên Tử, nơi phát tích của Trúc Lâm Thiền Phái, theo lời anh, là để cho mình đừng ngã lòng. Và anh đã không ngã lòng. Năm 2002, dù sau tai nạn giao thông với ống xương chân còn cặp thép, anh vẫn tay gậy bước thấp bước cao lên lại đỉnh Yên Tử, để từ đó quyển thơ Thiền có một không hai của anh ra đời. Được biết, sau hai cuộc triển lãm tại Sài Gòn và Hà Nội năm rồi, cuốn thơ Thiền của Nguyễn Duy đang chuẩn bị chu du sang Mỹ vào cuối năm nay.

Mãi hơn 5 giờ chiều, chúng tôi mới rời Yên Tử mà vẫn còn tiếc vì không kịp thưởng thức món đặc sản măng trúc luộc của rừng Yên Tử chấm với muối vừng.

Đón chúng tôi tại khách sạn 4 sao Hạ Long Dream là anh Nguyễn Trọng Chi, một bạn thân của Nguyễn Trọng Huấn, người luôn theo dõi cuộc hành trình của chúng tôi hàng ngày qua mạng internet. Đêm nay đoàn còn được anh Chi, anh Đỗ Thông, Bí thư thị xã uỷ Cẩm Phả cùng mấy người bạn trẻ của anh Huấn chiêu đãi một bữa thịt lợn rừng nhắm với rượu Ngán hâm nóng rất lạ và rất riêng của Quảng Ninh. Cái chuyện rượu Ngán này xin được kể chi tiết vào một dịp khác.

Nguyễn Trọng Tín – Đoàn Đạt

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: