Hành phương Nam

Thoáng chốc, cuộc dừng nghỉ lấy sức cũng mất đứt của chúng tôi đúng nửa tháng. Sáng 23.3.2005, đoàn du khảo văn hoá xuyên Việt tiếp tục chặng cuối: miền Tây Nam bộ. Miền Nam đang cao điểm mùa nắng nóng nên hành lý của mọi người cũng nhẹ đi đáng kể. Xe, người đều như cũ, chỉ riêng Khắc Tuấn có chút thay đổi, đó là cái máy quay phim chuyên dùng kềnh càng nặng hơn 5kg.

Gò Công, đất hoàng tộc

Lăng mộ đức Quốc công Phạm Đăng Hưng.

Quốc lộ 50 đoạn bắc Bình Chánh – Gò Công hoá ra là đoạn đường khó đi hơn cả so với các chặng trên hành trình vừa rồi, chỉ 50 km mà chúng tôi phải mất hơn 3 giờ. Nhồi xóc gập ghềnh qua Cần Giuộc, Cần Đước. Thấp thoáng những rặng dừa nước, những cánh đồng đang mùa trơ rạ, thấp thoáng trong trí nhớ những “ống khói đen xì” trong thiên văn tế bi hùng của cụ Đồ Chiểu năm xưa… 10 giờ, vượt phà Mỹ Lợi, đi tiếp 8km đến cầu Sơn Qui đã thấy anh Nguyễn Kim, một bạn văn ở Gò Công, đứng đợi bên đường để đưa chúng tôi vào viếng lăng Hoàng Gia.

Lăng Hoàng Gia (khu di tích lịch sử cấp quốc gia) là tên gọi khu đền thờ và lăng mộ của Quốc sử quán Tổng tài Phạm Đăng Hưng, ông ngoại của vua Tự Đức, thân phụ của bà Phạm Thị Hằng, tức đức Từ Dũ thái hậu, vợ vua Thiệu Trị, một ông vua của nhà Nguyễn. Khu di tích này được xây dựng từ năm 1825 sau khi ông Phạm Đăng Hưng mất ở Huế và được đưa về đây an táng. Ngoài đền thờ và lăng mộ, nơi đây còn lưu giữ tấm văn bia do Lễ bộ Thượng thư Phan Thanh Giản và Hình bộ Thượng thư Trương Quốc Dung cùng biên soạn. Tấm bia này có lịch sử lưu lạc khá lạ lùng. Năm 1858, vua Tự Đức cho khắc và chuyển từ Huế vào đến Vũng Tàu thì bia bị chính quyền thực dân Pháp lưu giữ. Sau đó tấm văn bia chi chít chữ Hán này bị dùng làm bia mộ cho đại úy thuỷ quân Pháp tên là Barbé, bị nghĩa quân Trương Định giết chết năm 1893, táng tại nghĩa địa Mạc Đĩnh Chi, Sài Gòn. Cũng nên nói thêm, ông Trương Định là cháu rể, gọi Phạm Đăng Hưng bằng cậu. Mãi đến sau giải phóng, khi nghiã địa nằm giữa đô thành này được giải toả thì người ta mới phát hiện và cho chuyển bia về đúng vị trí của nó sau hơn 130 năm lưu lạc.

Món mắm tôm chà trứ danh

Anh Huỳnh Hiếu Nghĩa (đứng giữa) đang giới thiệu với đoàn món mắm tôm chà Bà Hai.

Dân Gò Công gọi món đặc sản của quê mình là mắm tôm chà Từ Dũ. Tuy nhiên, theo ký ức dân gian thì món mắm này đã có từ trước khi bà Phạm Thị Hằng được tiến cung. Nhưng nó chỉ trở nên danh giá, thành món ăn cung đình kể từ khi trở thành hoàng hậu, bà Từ Dũ mới đưa nó vào trong thực đơn của giới hoàng tộc. Thực chất mắm tôm chà là món thức chấm được làm từ thịt con tôm bạc biển Gò Công.

Sau mấy lần vòng tới vòng lui tìm kiếm, với sự hướng dẫn nhiệt tình của hai bạn hữu đất Gò Công là anh Nguyễn Kim và Nguyễn Văn Nê, cuối cùng chúng tôi cũng tìm tới được lò mắm gốc của bà Hai Gò Công, một trong những lò mắm lâu đời nhất ở đây. Bà Hai, người làm ra thương hiệu của món mắm này đã qua đời từ lâu. Kế nghiệp hiện nay là người cháu ngoại của bà, anh Huỳnh Hiếu Nghĩa, một thầy giáo dạy hóa của trường trung học địa phương.

Con tôm tươi khi vừa đánh bắt được rửa sạch, để ráo, cắt bỏ phần đầu từ mắt trở lên, ướp rượu, muối rồi quết nhuyễn, đem phơi nắng đến 3 ngày. Sau đó chà qua rây (lưới lỗ li ti) để ép lấy phần thịt tôm, cho gia vị vào, đem phơi nắng tiếp độ nửa tháng, lại để tiếp trong mát chừng nửa tháng nữa thì ăn được. Nhưng muốn thật ngon phải để mắm từ 2 tháng trở lên. Từ 3,5 đến 4 kg tôm thì làm ra được 1 ký mắm. Khi ăn chỉ cần cho vào chút chanh, tỏi, ớt và đánh đều lên (không cần bột ngọt). Thịt luộc, tôm luộc hay cá nướng với rau sống, xoài chua bằm cuốn bánh tráng chắm mắm tôm chà thì hết ý. Buổi trưa, sau khi từ giã lò mắm bà Hai, chúng tôi ra bờ biển Tân Thành “thí nghiệm” món mắm tôm chà chỉ với khóm chín mà đã thấy hết ý thật.

Đoàn chụp ảnh lưu niệm với nhà văn Trang Thế Hy (ngồi giữa).

Ngoài mắm tôm chà, cơ sở mắm bà Hai còn sản xuất mắm tôm chua nguyên con (món này cũng có trong thực đơn cung đình Huế), mắm ruốc, mắm còng lột nguyên con và mắm còng chà. Nhưng chúng tôi đã chậm chân nên chưa được nếm thử các món ngon này, vì trước đây mấy ngày, bà Tuyết Nga của khu du lịch Một Thoáng Việt Nam đã cho người về mua gom sạch. Lò mắm của anh Nghĩa mùa tết vừa rồi bán ra được hơn 70 triệu đồng. Nhìn chung nghề truyền thống này của Gò Công làm ăn khá khả quan. Nhưng họ vẫn quyết tâm giữ nghề bằng cách giữ lấy chất lượng là chính nên chỉ làm với con tôm, con còng nguyên liệu của vùng Gò Công mà thôi.

Hơn 5 giờ chiều, đoàn mới qua được bắc Rạch Miễu để nghỉ lại ở thị xã Bến Tre. Buổi tối, cả đoàn kéo đến một vườn dừa nằm ngoài ngoại ô thị xã để thăm nhà văn Trang Thế Hy, cây cột trụ lớn của văn chương Nam Bộ đương đại, cũng là một bậc lão làng của chuyện ẩm thực. Năm nay đã 83 tuổi, người gầy gò nhưng rất linh hoạt, đặc biệt trí nhớ của nhà văn thật tuyệt. Thỉnh thoảng trong cuộc đàm đạo, ông lại đọc thuộc lòng cho chúng tôi nghe từng trích đoạn văn xuôi của Lỗ Tấn, Hemingway… Biết chúng tôi đang quan tâm đến chuyện tiếp thị ẩm thực, ông đọc một bài thơ “tiếp thị” rượu của Tản Đà viết riêng cho một quán nhậu nào đó của đất Hà Thành từ đầu thế kỷ 20, dù là bài quảng cáo, nhưng vẫn tuyệt vời thơ. Một dịp khác, chúng tôi sẽ chép lại tặng bạn đọc bài thơ này.

Nguyễn Trọng Tín – Đoàn Đạt

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: