Ngày vàng

Trong hoài niệm của tôi chưa từng hiện hữu một ký ức nào liên quan trực tiếp tới cây lúa. Thật buồn cười, nhưng đơn giản chỉ vì bản thân tôi sinh ra trong thành phố, lớn lên cũng trong thành phố, đôi khi là ghé ngang ghé dọc miền nông thôn  cũng chỉ thăm thú đình chùa, lấy đâu ra kinh nghiệm của người chân lấm tay bùn. Chưa từng một lần khoác ách vào cổ trâu, chưa từng một lần đi chân trần xuống ruộng ngập nước, lũ thành thị chỉ mang trong mình cảm nhận về miền thôn dã qua những hình ảnh hời hợt bề ngoài. Song không phải vì thế mà chúng tôi chưa từng háo hức với những ngày lúa vàng triền đê, lúa theo bước chân người tuôn chảy về những ngõ khuất khúc để ấm no từng mái nhà.

Hình như trong sử thi Tây Nguyên có câu chuyện về thời xửa thời xưa, khi hạt lúa to như quả bí và biết tự lăn từ nương rẫy về buôn làng. Cũng hình như ước vọng của người đồng bằng sông Hồng từ ngàn xưa cũng mơ tới thời nào xa lắm lúa trổ bông chín vàng khắp thôn trên xóm dưới, lúa đầy bồ, trâu đầy sân… Cổ tích của xứ mình thì nơi nào cũng từa tựa motip giống nhau, tựu trung lại vẫn là ấm no sau biết bao thế kỷ binh lửa loạn ly. Phải vậy chăng mà ngày lúa vàng trên những cánh đồng Bắc bộ và trung du, nơi nào cũng bắt gặp những mảnh đời hồn hậu, nụ cười và bàn chân nhảy chim sáo của lũ trẻ nông thôn.

Đó là ngày tôi lang thang trên một dải sông nhỏ ở Vĩnh Phúc, nơi đó lúa đang kìn kìn theo bánh xe công nông rầm rộ từ ruộng bò lên đê và khuất sau ngõ làng. Những túm lúa bó trĩu nặng trên xe, lúc lắc theo nhịp xe trườn trên đê như bàn tay trẻ thơ vung vẩy. Dải triền đê chẳng có gì đặc sắc ngoài hình dáng chạy quanh co ven bờ sông, dưới ánh vàng của lúa bỗng rực rỡ như tấm lưng uốn khúc của Rồng huyền thoại. Những bó rơm óng ả được dựng đứng choẽ chân, cổ thắt đều tăm tắp theo thân đê, đẹp mê hồn và gợi lên hình ảnh rõ ràng về lớp vẩy của Rồng đang cố tung hoành bay bổng. Không hiểu sao tôi lại nghĩ về hình ảnh đó, bởi trong Dịch, hình tượng Rồng dưới ruộng chỉ là hào khởi đầu cho chuỗi vận động của người quân tử. Thật ra cũng chẳng có gì sâu sắc lắm, bản thân tôi cũng chỉ nghĩ vẩn vơ và liên tưởng, song chắc chắn một điều về cảnh thôn dã của con đường đê có thể hút hồn những kẻ lãng tử đang đi lùng vẻ đẹp quê hương. Có thể bản thân người dân quê chẳng mấy lưu tâm về chuyện lãng mạn thị thành đó, nhưng nét mãn nguyện trên khuôn mặt ngày mùa mới quyến rũ làm sao.

Thói quen của người quê ở đâu cũng giống nhau, nhất là trong cách phơi phóng. Có thể các nhà quản lý giao thông không hài lòng với kiểu phơi rơm ngoài đường, nhưng khi đi xe máy trên con đường làng bập bồng rơm phủ, rõ ràng thú vị hơn con đường trải nhựa êm ro. Tôi bắt gặp điều này ở rất nhiều nơi, chỗ nào càng ít người qua lại càng dễ được bập bềnh trên thảm rơm dài quanh co lối xóm. Làng gốm cổ Phù Lãng không chỉ hút hồn người bằng chất men sành nâu thô ráp sần sùi, ngày mùa bỗng hoá thân thành chỗ tạo hình nghệ thuật dân gian đặc sắc với hàng ngàn bó rơm xếp đều trên tường nhà, dưới chân vách, dọc ngõ gạch cổ… Nơi nào cũng có những đám trẻ lăn lê giữa rơm vàng cùng cún vàng, nơi nào cũng có trâu đủng đỉnh mơ màng trong nắng ấm. Ngày mùa, nhân lực khoẻ mạnh đổ hết ra đồng, để lại nhà cửa cho bầy trẻ làm công chúa hoàng hậu giữa không gian sực nức hương rơm mới.

Người sành ăn hay nhắc nhỏm tới món ngày mùa vẫn lưu truyền trong dân gian miền đồng bằng Bắc Bộ: chim ngói cơm mới. Thú thật đã sống nửa đời trong chốn phù hoa, đã nếm cơm thiên hạ khắp mọi vùng, bản thân tôi cũng chưa từng được thưởng qua món ăn thương lưu nơi thôn dã đó. Không biết ngày nay còn nơi nào trong vô vàn làng quê đất Việt lưu giữ được tập tục đáng yêu đó, còn những vị khách ghé qua thăm thú như chúng tôi hồ dễ có cơ hội nào để thưởng thức? Song điều đó cũng không làm giảm bớt xúc cảm trước ngày mùa rộn rã ngoài đồng. Những xe bò, xe cải tiến bận tíu tít, đàn gà lười biếng béo tròn vì nhặt quá nhiều thóc vãi, đàn chó uể oải vì trọn ngày quần nhau cùng trẻ nít giữa mưa rơm trên ngõ, trong sân. Những hình ảnh đó sẽ chẳng bao giờ ta bắt gặp trong thành phố, nơi nhiều người chỉ biết sống bằng lương và những toan tính thị thành. Hẳn vì thế mà miếng cơm dẻo ngày mùa với người nông dân thuần phác sẽ ngon lành hơn chán vạn lần các món ê hề ngày nào người thành thị cũng gọi cho mình trong bàn nhậu ngập men bia?

Tháng 5, tháng 10, lịch làm nông cổ truyền từ bao đời nay vẫn vậy. Dĩ nhiên miền cao làm ruộng bậc thang khác với vùng đồng bằng lúa nước, nơi bãi bồi phù sa cây khoai, cây đậu đôi khi mang lại thu hoạch tốt hơn trồng lúa, song tựu trung lại những tháng vụ mùa vẫn là khoảng thời gian tưng bừng của miền quê. Đành rằng tôi vẫn la cà lễ hội vùng quê trong dịp Tết, vẫn thích chen vai vào đám hội cờ người, chọi gà được người vùng ven Hà Nội tổ chức trong tháng Giêng, nhưng dù sao tôi vẫn thích hơn khi được tĩnh lặng chạy xe giữa đường làng vắng lặng sực hương rơm vàng. Dịp cuối thu, ngày đầu hạ, những khoảng thời gian đó lòng người không toan tính tất bật lo Tết, cảnh sắc cũng im lìm không sặc sỡ tấm áo mới và hàng hoá xanh đỏ nhãn hiệu. Khi len lỏi vào chốn thôn dã ngày mùa, đôi lúc tôi gặp ánh mắt tò mò của đám trẻ chạy nghịch, đôi lúc sững sờ trước ánh mắt thăm thẳm của người thôn nữ có khuôn mặt bịt kín chỉ lộ đôi mắt đen huyền. Ôi chốn quê ngày mùa, nơi đó những thân phận được nuôi dưỡng êm ả để không biết tới khi nào sẽ bị huyễn dụ bởi ánh đèn thành phố để rời xa cố hương. Chuyện xã hội, ai chẳng biết vậy, từ xưa tới nay chỉ có người nông thôn lên thành phố kiếm sống, có bao giờ thấy người thành thị bỏ tưng bừng về đây tận hưởng thanh nhàn. Trong khi hương vị ngày mùa thì ngàn năm không đổi, mỗi năm hai bận ngào ngạt phủ khắp nẻo đường quê.

Long Tuyền

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: