Trời mưa, có dông?

Mỗi lần nghe đài khí tượng báo: “Trời mưa, có giông nhiều nơi”, bọn trẻ chúng tôi thường cười: “Mưa làm gì có dông?”. Dông là một thứ vưu vật trong ẩm thực mà mẹ tôi, thuở tôi còn học lớp năm lớp sáu, thường xưng tụng: “Công danh không bằng canh dông”.

Món thịt dông lột da bằm nấu bầu của mẹ tôi ngon lắm lắm, cỡ canh cá trê nấu bầu chỉ đáng… xách dép cho canh dông.

Bẫy dông

Dông lửa ở Phan Thiết thường lớn hơn dông cỏ, nhiều thịt, nhưng thịt ăn không ngọt.  Ảnh: C.K

Ngày còn nhỏ, ba tôi vẫn thường phải về quê ngoại xin tre ống lên để làm những chiếc bẫy dông. Quê ngoại tôi, nếu đi bộ, cách cái thị trấn Đồng Đế của thành phố Nha Trang nơi tôi ở một đoạn đường mòn dọc theo thiết lộ chừng hai cây số, trước khi qua cái hầm xuyên núi và cầu xe lửa màu đen có lối mòn rẽ sang phải. Được vài bước, muốn gọi ghe của cậu Mười sang đón, phải hú một tiếng. Bên kia sông, cậu Mười hay người nhà cậu bơi ghe sang rước.

Tre từ nhà ngoại mang về ba tôi thường tranh thủ lúc rảnh rỗi buổi tối để cưa từng ống tre đường kính cỡ bốn phân và dài cũng chừng đó phân. Những ống tre được chuốt cho trơn tru và phơi khô. Sau đó, ba tôi phải chẻ tre thành những chiếc que mỏng, lưng que là cật tre được giữ lại để tạo độ bật, chỗ cần bật thì chuốt thật mỏng, chỗ cán cắm xuống đất thì để dày và vót nhọn mũi. Que tre ấy là “linh hồn của cái bẫy dông dài khoảng 40 phân, từ dưới gốc mũi nhọn lên tới ống tre chừng 10 phân, ba tôi phải đo từ mức ấy lên tới trên đầu ống tre cao bốn phân một chút để xẻ một rãnh chia thân que tre làm hai và chèn ống tre vào đấy, dùng nhợ cố định ống tre với que tre. Que tre từ ống tre trở lên được chuốt mỏng dần, tận dụng độ dẻo của cật tre làm lò xo bật. Ở đầu que tre, ba tôi dùng rựa khắc một ngấn để cột sợi dây nhợ dùng làm thòng lọng rộng vừa miệng ống tre, Cách thòng lọng vài phân có cái chốt bằng tre vừa sít đường kính ống tre cột chặt vào sợi nhợ. Trên ống tre, có một lỗ nhỏ đục bằng dùi hơ lửa xoi thủng để luồn thòng lọng qua. Khi đặt bẫy, người ta cắm que tre có gắn ống tre sát xuống phần đất trên miệng hang dông. Bấy giờ, ống tre trở thành một phần nối dài của hang dông, bị chắn ngang bởi cái chốt cò tre. Trước khi đặt bẫy, người ta chạy một vòng quanh một khu vực đất cát rộng lớn nơi có nhiều hang dông. Dông bị động sẽ chui tọt vào hang, lúc đó mới bắt đầu cắm bẫy. Sáng cắm bẫy đến lúc nắng lên, dông đói mồi và cảm nhận được nắng ấm, từ hang chui ra, tung vào chốt tre bị thòng lọng giựt lên bởi lò xo cần tre và dính lại. Lúc ấy, chúng tôi tha hồ đi thăm bẫy.

Bí quyết của ba tôi để không sót bẫy là vì màu của tre khô trùng với màu cát, nên cắm theo cọc một miếng giấy trắng.

Kết quả là một trận thu hoạch đáng kể với vài chục dông, hai cha con hồ hởi ra về, miệng thì xôn xao nước dãi khi nghĩ đến món canh dông nấu bầu của mẹ tôi.

Thường ở quê tôi, dông bắt về còn sống; khi làm thịt người ta chặt đầu lột da và bằm nhuyễn với hành tiêu tỏi để nấu chứ không bao giờ rửa nước. Mẹ tôi giải thích: “Rửa nước tanh”. Tôi cảm nhận rằng không rửa nước nên thịt dông ngọt tuyệt. Nhưng dông không chỉ có nấu bầu.

Ngoài canh dông

Lớn lên một chút, bọn tôi bắt đầu tập luyện làm xạ thủ bắn ná. Và, cứ những ngày trời từ sau những cơn mưa dài dài dễ ghét của miền Trung đến lúc có chút nắng hửng hiếm hoi, bọn dông rời khỏi hang rất nhiều. Bọn trẻ háo thắng chúng tôi không dùng bẫy như cha ông mà dùng ná. Xạ thủ trẻ là phải bắn một phát nát đầu con dông, sau đó lượm mồi. Tất cả chỗ dông ấy được đem về nhà cho mẹ đúc bánh xèo. Trời ơi, bánh xèo dông phải biết. Chỉ có bánh xèo vịt xiêm mới gần ngang ngửa với nó thôi, vì mùi thơm không thể nào sánh nổi, mà vịt xiêm cũng phải băm như dông.

Bây giờ, vào những quán ở Sài Gòn có dông sống, nướng mọi đốt cháy cả da, nhưng thịt dông không làm sao ngọt bằng dông ở quê. Trước tiên là dông bán ở Sài Gòn là dông lửa Phan Thiết sống ở vùng đất cát nắng cháy, con lớn, nhưng không thể nào ngon bằng dông cỏ, con nhỏ sống ở những vùng còn có chút cỏ cây. Sau nữa là vì con dông nhốt lâu ngày trong tình trạng stress, nên có lẽ thịt không thể ngon bằng con dông mới bắt tươi roi rói.

Bây giờ, khi biết cái ngon của công danh, đối chứng lại quy luật mà mẹ tôi phát biểu “công danh không bằng canh dông”, tôi lại thấy mình bị mơ hồ, không biết có đúng thật hay không. Chứ còn ngày xưa, lúc còn bé, nếu đánh đổi thì tôi xin chọn canh dông thay công danh.

Ngữ Yên

Advertisements

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: