Bên cầu Hiền Lương nghĩ về đất nước thống nhất

Con sông lịch sử này có tên khai sinh là sông Minh Lương, dài gần 100km, nơi rộng nhất là 200m, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chạy dọc từ vĩ tuyến 17 từ tây sang đông đổ ra Biển Đông tại cửa Tùng. Ở dãy Trường Sơn hùng vĩ phía tây, tận biên giới Việt-Lào có một ngọn núi cao. Từ đây có hai dòng nước chảy về hai hướng ngược chiều nhau: Một dòng chảy về phía tây qua Lào trở thành sông Sê-băng-hiêng, người Vân Kiều gọi là “Dòng nước chảy ngược”, một dòng sông chảy về phía đông qua Quảng Trị gọi là sông Bến Hải. Sông Bến Hải chảy xuôi được hơn 80km gặp sông Sa Lung từ hướng tây bắc chảy vào thành ngã ba sông mà ngày nay đứng ở cầu Hiền Lương nhìn về phía tây thấy rất rõ. Hợp lưu cả hai con sông này chảy qua làng Hiền Lương (nằm ở bờ Bắc) nên còn gọi là sông Hiền Lương.
Sau ngày ký kết hiệp định Giơ-ne-ve (20-7-1954), con sông này được cả thế giới biết đến. Theo hiệp định, đất nước Việt Nam chia thành hai miền: Bắc – Nam, lấy vĩ tuyến 17 làm ranh giới quân sự tạm thời. Sông Bến Hải là đường biên chia cắt trong thời gian hai năm chờ cuộc Tổng tuyển cử để thống nhất nước Việt Nam được quy định vào tháng 7-1956.


Tượng đài bờ Nam ngóng về phương Bắc

Kỳ đài bờ Bắc

Cổng chào cầu Hiền Lương

Cầu Hiền Lương cũ và mới

Hệ thống loa phóng thanh tuyên truyền của miền Bắc

Nhưng sự thật lịch sử lại bị những thế lực bên ngoài can thiệp. Nam Việt Nam dưới sự bảo trợ của Mỹ đã đơn phương phá Hiệp định Giơ-ne-ve Cầu Hiền Lương đã chia cắt đất Việt ròng rã hai mươi năm… Xưa kia, đoạn sông rộng 100m này chỉ có bến phà. Đến năm 1928, chính quyền phủ Vĩnh Linh huy động sức dân làm một chiếc cầu gỗ, cọc sắt, rộng 2m, tải trọng chỉ đủ cho khách bộ hành. Năm 1931, người Pháp sửa chữa lại nhưng xe cộ muốn qua sông vẫn phải đi bằng phà. Năm 1943, cầu được nâng cấp một lần nữa, lúc này xe cơ giới loại nhỏ có thể qua được. Năm 1950, do nhu cầu quân sự, người Pháp cho xây dựng lại cầu bằng bê-tông cốt thép, dài 162m, rộng 3,6m, tải trọng 10 tấn. Cầu tồn tại được hai năm, bị chiến tranh tàn phá hư hỏng hoàn toàn.

Tháng 5-1952, Pháp xây lại cầu mới. Cầu dài 178m, 7 nhịp, trụ bằng bê-tông cốt thép. Dầm cầu bằng thép, mặt cầu lát bằng gỗ thông, rộng 4m, hai bên có thành chắn cao 1,2m, tải trọng cầu tối đa là 18 tấn. Cầu chia làm hai phần, mỗi bên dài 89m, sơn hai màu khác nhau. Bờ Bắc gồm 450 tấm ván mặt cầu. Bờ Nam 444 tấm. Cầu này tồn tại được 15 năm (1952-1967) bị bom Mỹ đánh sập.

Từ năm 1972 – 1974, bộ đội công binh Việt Nam đã bắc cầu phao dã chiến cách cầu cũ 20m về phía tây. Đến năm 1974, cầu được xây dựng lại.

Sau tháng 4-1975, cầu cũ càng ngày càng xuống cấp nghiêm trọng. Năm 1996, Bộ Giao thông cho xây cầu mới, dài 230m, rộng 11,5m, nằm về phía tây cầu cũ. Cầu mới được xây dựng bằng công nghệ đúc đẩy, một phương pháp thực thi hiện đại nhất lần đầu tiên được áp dụng tại Việt Nam. Cầu cũ làm từ năm 1974 đang được giữ lại để phục chế nguyên dạng. Cây cầu giai đoạn 1954 – 1967, làm tâm điểm cho khu du lịch – Đôi bờ Hiền Lương.

Chiến thắng mùa xuân năm 1975, cầu Hiền Lương lại nối hai bờ Bắc Nam sông Bến Hải, đất nước nối liền một dải, sự chia cắt chìm vào trong ký ức, để ngày nay cứ mỗi lần xuôi vạn lý đi dọc theo đất nước chúng ta lại vô cùng trân trọng sự thống nhất đất nước mà dân tộc Việt Nam phải đánh đổi bằng máu trong hàng chục năm chiến tranh. Vâng! đất nước thống nhất, non sông một dải, cầu Hiền Lương lại trở về với chức năng của mình đó là nối nhịp đôi bờ… Trân trọng lắm thay!.

ĐÀO MINH TUẤN

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: