Công nghệ sinh học Việt Nam: Chưa thực sự tạo giá trị kinh tế!

Công nghệ sinh học ở Việt Nam chỉ mới ở giai đoạn bắt đầu. Ngành khoa học này cũng bắt đầu chịu tác động của hội nhập quốc tế, nhưng thành quả của nó còn ở mức sơ khai, chưa tạo giá trị kinh tế thực thụ

Phương pháp trồng rau trong nhà có dùng các chế phẩm sinh học. Ảnh: Minh Phúc

Phân bón và giống hoa lan…

Tiến sĩ Dương Hoa Xô, giám đốc trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM đánh giá cao tác động tích cực của công nghệ sinh học vào sản xuất, cụ thể là các lĩnh vực thuộc sản xuất nông nghiệp, như: chăn nuôi (môi trường, con giống), trồng trọt (giống mới, năng suất…), xử lý môi trường, phân bón… Nhưng với Việt Nam, vai trò của công nghệ sinh học còn mờ nhạt. Phần lớn, những đóng góp của công nghệ sinh học hiện nay chỉ dừng lại ở các chế phẩm sinh học dùng trong điều chế phân bón với các tác dụng: phòng trừ sâu bệnh, cải tạo đất, kích thích tăng trưởng… và tạo giống cây cảnh mà cụ thể là giống của dòng hoa lan.

Theo bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, trong danh mục các loại thuốc bảo vệ thực vật được phép lưu hành (số liệu thống kê đến giữa năm 2007), đã có 479 sản phẩm có nguồn gốc sinh học, trong đó có 300 sản phẩm thuốc trừ sâu và 98 sản phẩm thuốc trừ bệnh. Các nhà khoa học của trung tâm Công nghệ sinh học TP.HCM đánh giá cao các sản phẩm sinh học hiện có trên thị trường như nhóm sản phẩm phân hữu cơ Cugasa của công ty Anh Việt, phân VK của công ty Viễn Khang, phân hữu cơ Phaga, Trimix của công ty Phaga… Về giống cây trồng, công nghệ sinh học cũng chỉ mới can thiệp vào một số cây cảnh như giống hoa lan. Theo nguồn tin từ trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM, cơ quan này đã chuyển giao cho thị trường 100.000 gốc hoa lan được ứng dụng theo kỹ thuật nhân giống cấy mô thực vật và các bộ kit phát hiện virus trên hoa lan và trên con tôm.

Một số sản phẩm phân bón, thuốc trừ sâu sinh học

VINEEM 1500 EC chiết xuất từ nhân hạt neem của công ty thuốc sát trùng Miền Nam. Hai chế phẩm sinh học Biobac và Biosar có khả năng phòng trừ những bệnh thường gặp trên lúa là đốm vằn và cháy lá của khoa nông nghiệp và sinh học ứng dụng (đại học Cần Thơ). Hai chế phẩm nấm trừ côn trùng Metarhizium anisopliae và Beauveria bassiana của viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long. Hai chế phẩm sinh học BIMA (có chứa trichoderma) của trung tâm công nghệ sinh học TP.HCM và chế phẩm Vi-ĐK của công ty thuốc sát trùng Việt Nam. Các nhà khoa học của viện công nghệ sinh học (viện Khoa học và công nghệ Việt Nam) cũng đã nghiên cứu và sản xuất thành công chế phẩm sinh học Lipomycin-M có tác dụng giữ ẩm cho đất.

Câu chuyện của tương lai

Tại hội thảo “Công nghệ sinh học cây trồng ở Việt Nam – hướng phát triển cho tương lai” vừa được tổ chức tại TP.HCM hôm 29.9, khi một nhà khoa học hỏi rằng, thái độ của các quốc gia có nền kinh tế với các sản phẩm chuyển đổi gene như thế nào, đại diện của tổng lãnh sự Mỹ nói rằng, hơn 300 triệu dân Mỹ từ lâu đã dùng các loại thực phẩm như bắp, đậu nành… chuyển đổi gene!

Theo thông tin của TS Xô, kể từ khi cây trồng chuyển gene được thương mại hoá vào năm 1996, đến nay diện tích cây trồng chuyển gien trên toàn thế giới là 114,3 triệu hecta với các loại cây như bắp, đậu nành, bông, cải dầu… Các quốc gia có nhiều diện tích cây trồng chuyển gene là Mỹ, Argentina, Brazil, Canada, Ấn Độ, Philippines… Dù còn nhiều ý kiến khác nhau về cây trồng loại này nhưng xu hướng cây chuyển gene đang được toàn cầu quan tâm vì nó đảm bảo được nhiều vai trò về năng suất, rút ngắn thời gian lai tạo giống, môi trường…

Trao đổi với SGTT, TS Xô cho biết, trong mục tiêu phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học, Việt Nam sẽ tập trung vào các nhóm đối tượng: giống, chủng vi sinh vật, các chế phẩm sinh học, nhân bản vô tính động vật, cây chuyển gene: bắp, đậu nành, bông vải để chế biến thức ăn gia súc và nguyên liệu cho ngành dệt may.

Nằm trong các chương trình trọng điểm đã được Nhà nước xác định, nhưng thành tựu của công nghệ sinh học được xem là “zero” vì nhiều lẽ: vốn, thiết bị, môi trường nghiên cứu… Nhưng quan trọng hơn cả là việc triển khai công nghệ sinh học đến các thành phần xã hội chưa được coi trọng. “Chủ trương đã rõ nhưng các địa phương không quan tâm nên các đơn vị nghiên cứu không thể triển khai được những nghiên cứu của họ”, TS Xô chia sẻ.

Trọng Hiền

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: