Quảng cáo ngũ cốc ăn sáng Kellogg’s

Tháng Mười Hai 1, 2008

Cà phê kiểu Việt

Tháng Chín 18, 2008

Cà phê ở Việt Nam có hai loại chính. Loại thứ nhất có tên thông thường trong tiếng Việt là cà phê chè (tên khoa học: coffea arabica). Loại thứ hai là cà phê vối (tên khoa học: coffea canephora hay coffea robusta).

Giống cà phê arabica có đặc điểm chỉ phát triển ở độ cao từ 1.000 mét (so với mực nước biển) phù hợp với khí hậu vùng cao miền Bắc và Lâm Đồng trở lên Đà Lạt. Còn cà phê robusta thì phát triển tốt ở cao độ thấp hơn mà vùng Buôn Ma Thuột và Dắk Lắk hiện nay được coi là thủ phủ của cà phê robusta. Hàm lượng caffeine trong hạt cà phê robusta khoảng 2 – 4%, trong khi ở cà phê arabica chỉ khoảng 1 – 2%. Cà phê vối chứa hàm lượng caffeine cao hơn và có hương vị không tinh khiết bằng cà phê chè, do đó cà phê vối giá trị không bằng cà phê chè.

Xem tiếp…


Các cơ sở chế biến chè đen còn thiếu điều kiện bảo đảm vệ sinh an toàn thự phẩm

Tháng Chín 17, 2008

Để có được sản phẩm chè đáp ứng được các yêu cầu VSATTP, phù hợp với yêu cầu về sản xuất, chế biến chè của Bộ NN thì các cơ sở chế biến chè đen cần phải có những nỗ lực cao trong việc cải tạo, nâng cấp nhà xưởng cũng như cải tạo lại dây chuyền chế biến.

Các đơn vị sản xuất chè đen theo công nghệ CTC hầu hết đều có dây chuyền sản xuất mới được nhập đồng bộ từ Ấn Độ, được tự động hoá cao, nhà xưởng cũng mới được xây dựng (khoảng từ năm 2002 trở lại đây) nên hầu như tất cả đều đảm bảo các yêu cầu về VSATTP. Mặc dù vây, một số đơn vị như Công ty CP chè Hà Nội (Thái Nguyên) do hạn chế về mặt bằng nhà xưởng nên việc đảm bảo VSATTP trong sản xuất chưa cao.

Xem tiếp…


Thiết kế bao bì của các sản phẩm ngũ cốc ăn sáng

Tháng Chín 10, 2008


Xem tiếp…


Kiểu Dáng Bao Bì Các Sản Phẩm Trà – Cà Phê

Tháng Tám 26, 2008

Xem tiếp…


Xây dựng thương hiệu cho cà-phê Việt Nam

Tháng Tám 4, 2008

Để cà-phê Việt Nam có một thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng quốc tế, những nhà hoạch định chính sách cũng như người trồng cà phê vẫn còn rất nhiều việc phải làm…

Sự phát triển của cây cà-phê nước ta là thành tựu lớn trong thế kỷ 20. Từ chỗ không được ghi vào bản đồ các nước trồng cà-phê, đến nay, diện tích cà-phê của Việt Nam đã đứng vị trí thứ hai chỉ sau Brasil về cà-phê xuất khẩu trên thị trường thế giới, và là nước duy nhất có năng suất cà-phê vối cao kỷ lục. Tuy nhiên để cà-phê Việt Nam có một thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng quốc tế, vẫn còn rất nhiều việc phải làm…

Sản lượng cao, thu nhập lớn nhưng giá trị xuất khẩu chưa cao

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội lớn cho ngành nông nghiệp nước ta phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái để phát triển những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Cà-phê là một trong những nông sản điển hình đó. Mặc dù gia nhập thị trường thế giới muộn hơn nhiều so với các nước sản xuất cà-phê truyền thống, nhưng Việt Nam đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở nhiều nước, trong đó có những thị trường rất khó tính như Mỹ, Ðức và các nước châu Âu khác.

Từ những cây cà-phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Ðến nay, cà-phê ở Việt Nam được trồng nhiều tại các tỉnh Tây Nguyên với hơn 600 nghìn ha, đạt sản lượng gần 700 nghìn tấn, thuộc vào loại năng suất cao hàng đầu trên thế giới. Có thể nói, ngành cà-phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây. Ðó cũng là một trong những nguồn xuất khẩu chính, mang lại cơ hội công ăn việc làm và thu nhập ngày một cao cho người sản xuất kinh doanh cà-phê.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 10-2007, nước ta xuất khẩu được 41,6 nghìn tấn cà-phê với kim ngạch đạt 72,86 triệu USD, tăng 9,12% về lượng và tăng 10,5% về trị giá so với tháng 9-2007, tăng 6,55% về lượng và tăng 40,45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006. Cùng với sự gia tăng sản lượng cà-phê xuất khẩu và dẫn đầu thế giới về sản lượng cà-phê Robusta (cà-phê vối) nhưng giá trị xuất khẩu cà-phê nước ta đem lại không cao do giá xuất khẩu còn thấp vì chất lượng thấp. Chất lượng cà-phê xuất khẩu là một thách thức về khả năng cạnh tranh của chúng ta.

Theo báo cáo của Hiệp hội Cà-phê – Ca- cao Việt Nam, trong sáu tháng tính đến tháng 3-2007, cà-phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88% trong tổng số cà-phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Cùng một loại sản phẩm, nhưng giá cà-phê xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các nước trong khu vực từ 50 đến 70 USD/tấn, nhiều khi sự chênh lệch này còn lên đến 100 USD. Nguyên nhân bởi từ trước đến nay, cà-phê xuất khẩu của nước ta được đánh giá theo tiêu chuẩn cũ của năm 1993 (TCVN: 4193-93).

Theo tiêu chuẩn này, sản phẩm hầu hết được bán ở dạng “thô”. Ðây là tiêu chuẩn phổ biến mà nhiều doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà-phê Robusta (R2), tức là cà-phê có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% và hạt trên sàn 13 đạt 90%. Và như vậy, vô hình trung chúng ta đã xuất khẩu cả một lượng cà-phê xấu đáng lẽ phải được thải loại. Các nhà thu mua cà-phê R2 đã tìm cách ép giá, trừ hao hụt tạp chất, hạt đen vỡ khi ký hợp đồng nên kim ngạch xuất khẩu cà-phê của chúng ta không tăng cao cho dù sản lượng tăng rất cao. Vì vậy, cà-phê Việt Nam phải bán với giá thấp hơn rất nhiều so với thế giới.

Tăng cường quản lý chất lượng cà-phê xuất khẩu

Cà-phê Việt Nam từ lâu được khẳng định, có chất lượng tự nhiên cao và có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển. Nhưng do khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt đã ảnh hưởng đến chất lượng vốn có. Cà-phê Việt Nam đã có mặt trên toàn thế giới, nhưng dường như người tiêu dùng trên thế giới vẫn chưa biết, họ hằng ngày vẫn đang dùng cà-phê hiệu Nestle, Maxell, Folger…

Theo tiêu chuẩn Hội đồng cà-phê Quốc tế (ICO) quy định từ năm 2004 (Tiêu chuẩn ISO10470: 2004) thì hạt cà-phê xuất khẩu được lựa chọn bằng cách cân các hạt lỗi (hạt đen, hạt nâu và hạt vỡ) và chất lượng được quyết định bởi số lượng hạt lỗi có trong cà-phê. Cụ thể là cà-phê Arabica không được quá 86 lỗi trong 1 mẫu 300g, cà-phê Robusta không được quá 150 lỗi trên 1 mẫu 300g. Hai loại cà-phê này phải có hàm lượng ẩm không quá 8% và 12,5%. Tuy nhiên, đây vẫn là tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện nên tất yếu dẫn đến tình trạng cà-phê chúng ta vẫn áp dụng theo tiêu chuẩn cũ để xuất khẩu.

Trước tình hình chất lượng cà-phê Việt Nam bị đánh giá thấp, chất lượng xuất khẩu không ổn định dẫn đến bị ép cấp, ép giá, làm giảm giá trị xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra tiêu chuẩn mới để đánh giá chất lượng xuất khẩu cho cà-phê Việt Nam mang tên (TCVN: 4193:2005) từ năm 2005 và yêu cầu áp dụng cho các doanh nghiệp từ niên vụ cà-phê 2006 -2007 để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Cà-phê thế giới, đánh dấu bước đầu “chuyên nghiệp” hóa trong việc quản lý chất lượng cà-phê xuất khẩu ở nước ta.

Cơ sở của thương hiệu

Tại hội thảo “Triển vọng thị trường, chất lượng và cơ cấu ngành hàng cà-phê 2008” do Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn tổ chức tại Hà Nội thì trong 15 năm qua, cà-phê Robusta trên thế giới đạt tốc độ tăng trưởng nhanh gấp đôi cà-phê Arabica, lượng tiêu thụ cà-phê tăng tập trung ở những nước đang phát triển và các thị trường cà-phê mới nổi. Theo Trưởng nhóm phân tích chiến lược của ICO “Việt Nam là quốc gia được công nhận có chi phí sản xuất thấp nhất nhưng cho sản lượng cao nhất trong số các nước xuất khẩu cà-phê Robusta”.

Như vậy, cà-phê Việt Nam đang đứng trước cơ hội thuận lợi để mở rộng thị trường và nâng cao sản lượng xuất khẩu. Vì vậy, những việc cần phải làm ngay đối với những nhà kinh doanh xuất khẩu cà-phê đó là phải tuân thủ những quy định của Nghị quyết 420 của ICO về chất lượng cà-phê. Nhà nước cần có quy định bổ sung mặt hàng cà-phê nằm trong danh mục bắt buộc phải kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi thông quan.

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực thương hiệu nông sản cho rằng, cơ sở của thương hiệu là vùng nguyên liệu đồng nhất, chất lượng cao và an toàn. Thực tế, hiện nay trừ vùng nguyên liệu cà-phê Ðác Lắc là tương đối lớn còn những vùng nguyên liệu cà-phê ở Ðông Nam Bộ hay Bắc Trung Bộ còn manh mún, nhỏ lẻ và chưa thật sự xây dựng được thương hiệu của mình.

Do vậy, giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu hiện nay của ngành cà-phê là rất cần thiết. Ðây là những yếu tố làm tăng chất lượng của cà-phê Việt Nam. Trong thời kỳ hội nhập, với tư cách là thành viên của WTO, nông sản xuất khẩu nói chung và cà-phê xuất khẩu nói riêng sẽ có những thời cơ nhưng cũng nhiều thách thức trước các hạn định, nguyên tắc của tổ chức.

Vì vậy cần trang bị kiến thức, nâng cao năng lực hội nhập WTO cho cán bộ và nhân dân các vùng chuyên canh cà-phê để họ hiểu rõ vận hội, nắm bắt thời cơ, hạn chế nguy cơ, đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành. Tạo điều kiện cho ngành cà-phê xuất khẩu, có những chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro trước những biến động của thị trường.

Mặt khác, tăng cường vai trò của Hiệp hội Cà-phê – Ca cao Việt Nam để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh cà-phê trong nước nhằm xây dựng thương hiệu cà-phê “made in Vietnam” uy tín trên thị trường thế giới.

Nguồn: nhandan.com.vn


Việt Nam đứng hàng thứ 5 thế giới về xuất khẩu chè

Tháng Tám 4, 2008

Trong 2 ngày 19 – 20/7, tại Hà Nội sẽ diễn ra “Ngày chè Việt 2008”. Sự kiện này được tổ chức nhân dịp 50 năm ngày Bác Hồ về thăm ngành chè và 20 ngày thành lập Hiệp hội chè Việt Nam. Cho đến thời điểm này, chè Việt Nam đã có mặt ở 118 quốc gia, đứng hàng thứ 5 trên thế giới cả về sản lượng và xuất khẩu.

Ông Nguyễn Văn Thụ, Phó Chủ tịch Hiệp hội chè Việt Nam cho biết, từ năm 2003 – 2007, sản lượng xuất khẩu của chè Việt Nam đã tăng hơn gấp 3 lần (từ dưới 60.000 tấn lên tới trên 180.000 tấn).

Việt Nam hiện có 3 loại chè: chè đen, chè xanh và một số loại chè khác. Trong đó, chè đen thì chủ yếu là để xuất khẩu, còn chè xanh thì lượng tiêu thụ ở trong nước và xuất khẩu là tương đương. Hiện trên cả nước có khoảng 20 doanh nghiệp chè với 60 dòng sản phẩm được đăng ký thương hiệu chè Việt. 

Ban tổ chức cho biết, trong ngày hội chè Việt 2008, sẽ có 25 gian hàng giới thiệu các sản phẩm chè hảo hạng của các doanh nghiệp được đặt tại vườn hoa Lý Thái Tổ; tổ chức Báo công lên Bác Hồ; Dâng hương trước tượng đài Lý Thái Tổ… 

Nguồn: http://thongtinthuongmaivietnam.vn


Chè Tuyết San được được cấp chứng chỉ ISO

Tháng Tám 4, 2008

Công ty cổ phần Trà Than Uyên (Lai Châu) vừa được Công ty TQ CSI INTERNATIONAl – đơn vị đại diện của Tập đoàn đánh giá chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm Vương quốc Anh cấp chứng chỉ ISO 22000:2005 cho sản phẩm chè xanh Tuyết San.

Đây là doanh nghiệp duy nhất của ngành chè Việt Nam và là doanh nghiệp đầu tiên của tỉnh Lai Châu được cấp chứng chỉ theo tiêu chuẩn chất lượng châu Âu.

Công ty chè Than Uyên được thành lập từ năm 1960, tiền thân là Nông-Lâm trường Than Uyên. Đơn vị đang quản lý vùng chè rộng gần 1.500ha. Nhà máy chế biến của Công ty hiện có 4 dây truyền công nghệ chế biến chè truyền thống và hiện đại với công xuất 60 tấn/ngày.

Bốn sản phẩm chủ yếu của Công ty là chè Dẹt, chè Cung Dung, chè Lăn và chè Bao Chủng đã được sản xuất theo đơn đặt hàng của 10 công ty trong và ngoài nước, xuất khẩu đi 8 quốc gia trên thế giới.

Nguồn: kinhte24h.com


Thông tin về thị trường chè Việt Nam

Tháng Tám 4, 2008

Theo số liệu thống kê, kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2008 đạt 44.066.425 USD, với lượng xuất đạt 34.118 tấn.

– Xuất khẩu mặt hàng chè của Việt Nam sang Thổ Nhĩ Kỳ trong tháng 5 đạt 146 tấn, với trị giá 341.365 USD. Tính chung 5 tháng đạt 393 tấn, với trị giá 791.166 USD.

– Tổng cục Thuế vừa gửi công văn tới cơ quan thuế các địa phương để hướng dẫn áp thuế giá trị gia tăng (GTGT) đối với sản phẩm chè các loại.
Cụ thể, chè đen, chè xanh các loại thuộc nhóm 0902 áp dụng thuế GTGT 10%, nhưng chè tươi phơi khô chưa chế biến cũng thuộc nhóm 0902 chỉ phải chịu thuế GTGT 5%. Chè tươi qua các công đoạn làm héo, vò, lên men, sao, phơi, sấy khô, sàng phân loại thành chè bán thành phẩm để làm nguyên liệu sản xuất chè xanh, chè đen, chè hương được coi là chè khô sơ chế ở khâu kinh doanh thương mại chỉ phải chịu thuế GTGT 5%.
Cũng theo hướng dẫn Tổng cục Thuế, chè khô sơ chế từ chè tươi chế biến thành chè thành phẩm như chè đen, chè xanh, chè hương và các loại chè thành phẩm khác đóng túi lọc, đóng hộp, đóng gói, đóng thùng để xuất khẩu hoặc tiêu dùng trong nước được coi là chè đã qua chế biến nên áp dụng thuế GTGT 10%.

– Trong tháng 5/2008, xuất khẩu mặt hàng chè sang Nhật Bản đạt 15 tấn, với kim ngạch đạt 60.366 USD. Tính chung, 5 tháng đầu năm kim ngạch đạt 327.537 USD, với lượng xuất đạt 164 tấn.

– Trong tháng 5/2008, xuất khẩu mặt hàng chè sang Liên Bang Nga đạt 585 tấn, với kim ngạch đạt 782.274 USD. Tính chung, 5 tháng đầu năm kim ngạch đạt 5.237.019 USD, với lượng xuất đạt 4.343 tấn.

– Tháng 5/2008, kim ngạch xuất khẩu chè Việt Nam sang Malaysia đạt 163 tấn, với trị giá 81.552 USD. Tính chung, 5 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu 591.712 USD, với lượng xuất 1.125 tấn.

Nguồn: http://vinanet.vn


“Thần dược” đậu nành

Tháng Tám 3, 2008

Sữa đậu nành là một loại thức uống thiên nhiên, có giá trị dinh dưỡng cao, mùi vị thơm ngon, dễ tiêu hoá và dễ hấp thu… Càng ngày, người ta càng khám phá ra thêm những giá trị mới của sữa đậu nành đối với sức khoẻ con người

Phòng chống được những căn bệnh thời đại

 

Nghiên cứu của các nhà khoa học thuộc trường đại học Tulane ở New Orleans (Hoa Kỳ) cho thấy sữa đậu nành còn có thể giúp phòng chống được nhiều căn bệnh thời đại vốn đang là nỗi lo của nhiều người như béo phì, tiểu đường, rối loạn nội tiết tố, loãng xương, tim mạch, ung thư hay các bệnh liên quan đến gan mật. Sữa đậu nành có giá trị dinh dưỡng cao và ngày càng được ưa chuộng trên thế giới. Tại một hội thảo chuyên về dinh dưỡng vừa được tổ chức tại TP.HCM, chuyên gia dinh dưỡng Justine Gayer đến từ Hoa Kỳ cho biết chất lượng đạm có trong sữa đậu nành tương đương đạm từ thịt, sữa và trứng. Sữa đậu nành phù hợp cho tất cả mọi đối tượng vì nó chứa tất cả các acid amin cần thiết cho nhu cầu của trẻ 2 – 5 tuổi, nhóm tuổi có nhu cầu dinh dưỡng cao, và cả người lớn.

Xem tiếp…


Khoai tây chế biến ’lên ngôi’

Tháng Sáu 30, 2008

Đã có thời khi nói đến khoai tây là người ta nghĩ ngay tới khoai tây tươi. Nhưng nay, trước nhu cầu đang gia tăng nhanh của các ngành công nghiệp thực phẩm ăn nhanh, snack và thực phẩm tiện dụng, việc sử dụng khoai tây chế biến ngày càng phổ biến.

Ở Việt Nam, ngành chế biến khoai tây mới xuất hiện chưa được 10 năm, nhưng đang phát triển rất mạnh mẽ.

Xem tiếp…


Trà – Cà phê – Ca cao lên men

Tháng Sáu 22, 2008

Phần 1: Trà lên men
1. Giới thiệu về trà
2. Quy trình sản xuất

Xem tiếp…


Chế biến cá thịt

Tháng Sáu 10, 2008

Chương I. Các tính chất của cá, thịt và một số đặc điểm về công nghệ hóa học (800.1 kB): chuong_1
Chương II. Các biến đổi sinh hoá của thịt cá và thịt gia súc (986.4 kB): chuong_2
Chương III. Chất lượng, đánh giá chất lượng và thời gian bảo quản cá ướp lạnh (1.1 MB): chuong_3
Chương IV. Công nghệ gia công sơ bộ (1.5 MB): chuong_4
Chươntg V. Công nghiệp chế biến hiện đại cá, thịt (1.5 MB): chuong_5


Kinh hoàng công nghệ… làm dưa chua

Tháng Sáu 2, 2008

Sau khi đổ các loại rau củ vào bể muối dưa, nước một màu đục ngầu nổi lên. Bên trên mặt nước, ngoài bồng bềnh dưa củ cải còn rác, ruồi nhặng chết trước đó. 

“Hái” tiền từ đồ bỏ đi!

Chợ đầu mối Bình Điền và chợ nông sản Thủ Đức ở TP.HCM ngày ngày tiếp nhận cả hàng ngàn tấn rau, trong đó nhiều nhất là rau cải bẹ, bắp cải, su hào và cà, kiệu các loại.

Tuy nhiên, không phải khi nào rau quả ở khu vực chợ đầu mối này cũng tiêu thụ hết. Một số ít do bị bầm dập, hay bị hư hại do sâu bọ… thường bị chê nên các chủ vựa rau chỉ còn cách đổ đống, may lắm thì bán tống bán tháo với giá bèo.

Một chủ vựa rau ở chợ nông sản Thủ Đức cho biết, cửa hàng chị “trùm” về rau cải, bắp cải, các loại rau làm dưa. “Mỗi ngày tôi nhập hơn 5 tấn rau các loại, chủ yếu xuất bán cho các đại lý làm rau sống, làm dưa ở khu miền Đông Nam Bộ. Do vận chuyển đường xa về nên khi nào cũng trừ phần hư hỏng do thối nát một lượng nhỏ khoảng 50-100kg. Loại rau thải bỏ đi này thường được người dân mua để nuôi heo. Tuy nhiên, gần một năm trở lại đây, rau loại thải lại được bán với giá 200-500 đồng/kg cho nhiều người dân mua về để “tái chế”. Người thì làm dưa, có nơi làm mắm…” – Chị này kể.

Khoảng 4 giờ sáng, tại các vựa rau ở chợ Bình Điền huyện Hóc Môn, hàng chục chiếc xe tải ùn ùn kéo về tập kết rau quả cho các vựa rau. Tại đây, đội quân bốc vác kiêm luôn “tút” lại cho rau sạch sẽ bằng cách loại hết phần rau bị úa, thối, bầm dập… rồi đóng lại thành các thùng hàng lớn chờ đại lý đến thu mua, hoạt động tấp nập.


Xem tiếp…


Trứng kiến – mùi phô mai thảo dã

Tháng Năm 27, 2008

Kiến có mặt khắp mọi nơi, con vật bé xíu nhưng lại có thành phần dinh dưỡng cao, đạm từ 42-67% và có 28 loại acid amin, ngoài ra nó còn có nhiều sinh tố và khoáng chất. Thời nhà Minh ở Trung Hoa, người ta dùng kiến để bào chế thành những viên thuốc tráng lực như thuốc bổ bây giờ.

Ơ nước ta, loài kiến vàng có khắp nơi, nhất là những vùng nhiều cây cối, vườn tược có cây ăn trái. Theo kinh nghiệm dân gian, người Việt đã biết dùng kiến vàng để làm tác nhân thúc đẩy sự thụ phấn, tạo sự kết quả cho cây trái. Kiến vàng cũng là loài thiên địch chống lại sự phá hoại của côn trùng khác gây hại cho cây trái.

Đi thọc trứng kiến

Với những lợi ích của kiến vàng, thường không ai phá tổ kiến. Nhưng trứng kiến vàng lại là một món ăn thuộc loại độc nhất vô nhị, nên dân nhà vườn đều có dịp thưởng thức món trứng kiến khi tới mùa cây trái nhiều.

Tuỳ thổ nhưỡng, cây trồng của từng vùng mà có cách nhận biết tổ kiến có trứng hay không. Ở vùng Bình Định, theo kinh nghiệm của người nhà vườn từ tháng giêng đến cuối tháng hai âm lịch, những kiến chúa tách đàn đi gầy tổ mới. Lúc này tổ mới gầy, lá còn tươi mới, xanh đậm, nghĩa là trứng còn mới, mọng sữa căng tròn. Còn lúc lá cây của tổ chuyển màu hơi vàng ươm là kiến đã nở nhiều. Còn vùng Củ Chi thì người đi thọc trứng kiến thường nhìn những loại lá cây có bản khá lớn như xoài, mận, chôm chôm,… Tổ kiến khi kết xong sẽ có lớp màng trắng liên kết các lá với nhau, khi nào lớp màng trắng phủ đều là bên trong tổ kiến chúa đã đẻ được khá nhiều trứng rồi.

Đi thọc trứng kiến là một cái thú. Người ta chuẩn bị sẵn một cây trúc dài cỡ 4-5 mét, cách đầu cây vót nhọn một đoạn khoảng 2-3 tấc, cột ba sợi dây, cuối dây là cái rổ quảu. Đám nhỏ ham coi thọc trứng kiến đi theo cứ lao nhao giành nhau xách cây trúc. Đến nơi, người có kinh nghiệm sẽ nhìn tổ và quyết định đưa đầu nhọn của cây trúc thọc từ dưới thẳng lên, xé toạc tổ ra. Lúc này người cầm cây thọc sẽ vỗ liên tục vào thân trúc, trứng trong tổ sẽ rơi xuống cái rổ hứng sẵn bên dưới.

Kiến lính, kiến thợ túa ra để bảo vệ trứng, lớp rớt theo trứng, lớp chạy tứ tán. Những người đi thọc và đám con nít thế nào cũng bị những con kiến lính hung dữ cắn vài phát la oai oái, vậy cũng đáng tội phá tổ kiến. Sau khi thọc vài tổ áng chừng đã đủ, đưa cái rổ đựng trứng ra chỗ nắng để xuống đất. Kiến vàng vốn không ưa nắng lắm, hễ đụng đất nóng là mấy con kiến thợ vội bỏ trứng chạy lấy người. Trứng kiến màu trắng đục, căng bóng trông thật hấp dẫn. Nhúm một miếng bỏ vào miệng ăn sống ngay tại chỗ, vị béo, thơm, tươi mới thật ngon, lạ miệng.

Trứng kiến: thơm, ngọt, béo, bùi

Trứng kiến vàng, tuỳ khẩu vị từng vùng mà chế biến khác nhau. Miền núi có món trứng kiến nấu măng sặt được liệt vào hàng mỹ vị. Măng cỡ ngón tay, lột sạch, đập giập cho vào nồi xăm xắp nước nấu mềm. Cho chút bột nếp vào để nước hơi sánh, rồi cho trứng kiến vào nấu chín, khi nhắc xuống cho thêm hành lá, lá chanh, ngò. Canh có vị ngọt của măng tươi hoà cùng vị béo bùi của trứng kiến, thơm ngọt khó tả hết.

Người vùng Bình Định thì đem trứng kiến xào chín trộn với dưa leo, ớt, bưởi và đài hoa đực của mít thái mỏng, rắc thêm đậu phộng; vậy là có món nộm trứng kiến tuyệt cú mèo. Cho gắp nộm vào miệng với đủ mùi vị chát, chua, cay cùng cảm giác giòn tan hoà lẫn thật tuyệt, nhưng độc đáo nhất là mùi vị béo bùi của trứng kiến cứ thoang thoảng.

Dân Củ Chi thì đem trứng kiến trộn gỏi đu đủ, gỏi bưởi hay nấu canh chua lá giang ăn với cơm trắng còn gì bằng. Nhưng thật ra trứng kiến vàng chỉ cần cho lên chảo rang lửa vừa tới, dằn chút nước mắm ngon cho hơi măn mẳn. Lửa vừa nóng làm cho từng cái trứng rời ra căng bóng, hơi rộm mặt là được, vì lúc này độ béo của trứng kiến sẽ đầy đặn nhất. Dùng muỗng cà phê xúc độ nửa muỗng cho vào đầu lưỡi, từ từ nhấm nháp sẽ nghe trọn vẹn hương vị thơm ngọt, béo bùi của trứng kiến, dư vị của nó lưu lại một chút mùi thơm hăng nồng không giống bất cứ một món ăn nào. Nhấp thêm ngụm đế nếp Bến Xúc nữa thì sự trọn vẹn của món trứng kiến rang không còn gì để nói! Trứng kiến rang mẳn là một món ăn kiểng, một món ăn thuộc hàng đệ nhất phong lưu, khoái khẩu của miệt đất vườn.

Ăn trứng kiến phải thật thư thả, thong dong. Người ăn cứ nhấm nháp nó từng chút một mới thấm thía cái ngon, cái hồn của hương vị quê nhà như đọng cả vào đây.

Đào Tâm – Thanh Mễ


Tạo dựng Thương hiệu cho sản phẩm chè

Tháng Năm 24, 2008

Công ty TNHH Thế Hệ mới từ năm 2003 đã tiến hành xây dựng Thương hiệu chè Cozy, Corona, Vân Tiên cho các sản phẩm của mình, đến nay qua 3 năm kinh doanh đã khẳng định được vị trí trên thị trường. Chúng tôi xin chia sẻ một số kinh nghiệm về xây dựng thương hiệu với quý vị.

1. Sự cần thiết xây dựng Thương hiệu cho sản phẩm chè

– Xây dựng Thương hiệu riêng là cách tiếp cận tốt nhất của nhà sản xuất với người tiêu dùng.

– Một sản phẩm có Thương hiệu sẽ giứp chúng ta ổn định và phát triển doanh số bán hàng, tạo lợi nhuận cho doanh nghiệp.

– Thương hiệu còn là cam kết của nhà sản xuất đối với chất lượng sản phẩm .

– Thương hiệu giúp chúng ta gia tăng được giá trị sản phẩm..

Còn rất nhiều lý do khác nữa để chúng ta khẳng định rằng tạo dựng Thương hiệu riêng cho sản phẩm của chúng ta là cần thiết. Điều chúng ta bàn ở đây là phải làm gì để xây dựng thành công một Thương hiệu chè. Theo tôi phải có điều kiện cơ bản sau:

+ Chúng ta phải cam kết trung thành với người tiêu dùng. Nếu chỉ một lúc nào đó chúng ta không quan tâm đến quyền lợi của người tiêu dùng chúng ta sẽ đánh  mất Thương hiệu của chính mình.

+ Quy trình sản xuất phải được tiêu chuẩn hóa đảm bảo chất lượng sản phẩm ổn định.

+ Phải tạo ra được sự khác biệt giữa Thương hiệu của mình với các thương hiệu khác. Nếu không có sự khác biệt thì thương hiệu của chúng ta sẽ nhanh chóng bị đào thải khỏi thị trường.

+ Phải có hệ thống phân phối đủ mạnh và phải có tiềm lực tài chính đủ mạnh để chi trả cho việc xúc tiến bán hàng và quảng bá Thương hiệu.

2. Các hình thức tạo dựng Thương hiệu đối với sản phẩm chè

+ Đóng gói chè trong bao gói nhỏ có tên tuổi riêng

+ Xây dựng các “Danh trà” , “Nhà chè” nơi đó bán chè rời dưới tên tuổi của mình.(mô hình ở Bảo Lộc hoặc hàng Điếu)

3. Các khó khăn trong việc xây dựng thương hiệu

+ Tập quán tiêu dùng , mua bán của người Việt Nam còn sơ khai. Chủ yếu mua chè qua mạng bán rong, bán trong các túi nilon buộc chung, qua người quen tại vùng trồng chè… ít ra siêu thị, cửa hàng để mua chè.

+ Bị tâm lý từ thời bao cấp: cho rằng chè đóng gói nhỏ là cũ, không ngon…

+ Mức thu nhập cua đại đa số người dân còn thấp, nên không sẵn sàng mua chè đóng gói sẵn. Một số tâm lý cho rằng mua chè đóng gói sẵn là bỏ tiền ra mua bao bì.

+ Người tiêu dùng chưa có ý thức về nguồn gốc cây chè, về diều kiện an toàn thực phẩm

+ Chè bị cạnh tranh mạnh từ các nước uống khác như: Cà phê, cô ca, và hàng loạt các loại nước uống có ga khác

+ Một số hãng đa quốc gia như Lipton, Dihma đã và đang xúc tiến quảng bá phân phối rất mạnh tại Việt nam

+ Người Việt Nam gọi chè đen là chè Lipton, gọi chè đen hương hoa qủa là chè Dihma. Những hãng vào sau phải xóa được ấn tượng của người tiêu dùng, điều này không phải dễ

Đoàn Anh Tuân – Giám đốc Công ty TNHH Thế Hệ Mới