Clip quảng cáo cà phê Nestlé

Tháng Hai 24, 2009

Quảng cáo cà phê Jacobs Aroma

Tháng Mười Một 28, 2008

Xây dựng thương hiệu cho cà-phê Việt Nam

Tháng Tám 4, 2008

Để cà-phê Việt Nam có một thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng quốc tế, những nhà hoạch định chính sách cũng như người trồng cà phê vẫn còn rất nhiều việc phải làm…

Sự phát triển của cây cà-phê nước ta là thành tựu lớn trong thế kỷ 20. Từ chỗ không được ghi vào bản đồ các nước trồng cà-phê, đến nay, diện tích cà-phê của Việt Nam đã đứng vị trí thứ hai chỉ sau Brasil về cà-phê xuất khẩu trên thị trường thế giới, và là nước duy nhất có năng suất cà-phê vối cao kỷ lục. Tuy nhiên để cà-phê Việt Nam có một thương hiệu quen thuộc với người tiêu dùng quốc tế, vẫn còn rất nhiều việc phải làm…

Sản lượng cao, thu nhập lớn nhưng giá trị xuất khẩu chưa cao

Hội nhập kinh tế quốc tế đã tạo ra những cơ hội lớn cho ngành nông nghiệp nước ta phát huy lợi thế về điều kiện tự nhiên, sinh thái để phát triển những sản phẩm có tính cạnh tranh cao. Cà-phê là một trong những nông sản điển hình đó. Mặc dù gia nhập thị trường thế giới muộn hơn nhiều so với các nước sản xuất cà-phê truyền thống, nhưng Việt Nam đã nhanh chóng chiếm lĩnh thị trường ở nhiều nước, trong đó có những thị trường rất khó tính như Mỹ, Ðức và các nước châu Âu khác.

Từ những cây cà-phê đầu tiên được đưa vào Việt Nam từ năm 1870, mãi đến đầu thế kỷ 20 mới được phát triển trồng ở một số đồn điền của người Pháp. Ðến nay, cà-phê ở Việt Nam được trồng nhiều tại các tỉnh Tây Nguyên với hơn 600 nghìn ha, đạt sản lượng gần 700 nghìn tấn, thuộc vào loại năng suất cao hàng đầu trên thế giới. Có thể nói, ngành cà-phê nước ta đã có những bước phát triển nhanh vượt bậc chỉ trong vòng 15-20 năm trở lại đây. Ðó cũng là một trong những nguồn xuất khẩu chính, mang lại cơ hội công ăn việc làm và thu nhập ngày một cao cho người sản xuất kinh doanh cà-phê.

Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, trong tháng 10-2007, nước ta xuất khẩu được 41,6 nghìn tấn cà-phê với kim ngạch đạt 72,86 triệu USD, tăng 9,12% về lượng và tăng 10,5% về trị giá so với tháng 9-2007, tăng 6,55% về lượng và tăng 40,45% về trị giá so với cùng kỳ năm 2006. Cùng với sự gia tăng sản lượng cà-phê xuất khẩu và dẫn đầu thế giới về sản lượng cà-phê Robusta (cà-phê vối) nhưng giá trị xuất khẩu cà-phê nước ta đem lại không cao do giá xuất khẩu còn thấp vì chất lượng thấp. Chất lượng cà-phê xuất khẩu là một thách thức về khả năng cạnh tranh của chúng ta.

Theo báo cáo của Hiệp hội Cà-phê – Ca- cao Việt Nam, trong sáu tháng tính đến tháng 3-2007, cà-phê xuất khẩu có nguồn gốc Việt Nam chiếm 88% trong tổng số cà-phê xuất khẩu bị thải loại của thế giới. Cùng một loại sản phẩm, nhưng giá cà-phê xuất khẩu của Việt Nam luôn thấp hơn các nước trong khu vực từ 50 đến 70 USD/tấn, nhiều khi sự chênh lệch này còn lên đến 100 USD. Nguyên nhân bởi từ trước đến nay, cà-phê xuất khẩu của nước ta được đánh giá theo tiêu chuẩn cũ của năm 1993 (TCVN: 4193-93).

Theo tiêu chuẩn này, sản phẩm hầu hết được bán ở dạng “thô”. Ðây là tiêu chuẩn phổ biến mà nhiều doanh nghiệp áp dụng để xuất khẩu cà-phê Robusta (R2), tức là cà-phê có độ ẩm 13%, tạp chất 1%, hạt đen vỡ 5% và hạt trên sàn 13 đạt 90%. Và như vậy, vô hình trung chúng ta đã xuất khẩu cả một lượng cà-phê xấu đáng lẽ phải được thải loại. Các nhà thu mua cà-phê R2 đã tìm cách ép giá, trừ hao hụt tạp chất, hạt đen vỡ khi ký hợp đồng nên kim ngạch xuất khẩu cà-phê của chúng ta không tăng cao cho dù sản lượng tăng rất cao. Vì vậy, cà-phê Việt Nam phải bán với giá thấp hơn rất nhiều so với thế giới.

Tăng cường quản lý chất lượng cà-phê xuất khẩu

Cà-phê Việt Nam từ lâu được khẳng định, có chất lượng tự nhiên cao và có hương vị đậm đà do được trồng ở độ cao nhất định so với mặt biển. Nhưng do khâu thu hái, phơi sấy, chế biến không tốt đã ảnh hưởng đến chất lượng vốn có. Cà-phê Việt Nam đã có mặt trên toàn thế giới, nhưng dường như người tiêu dùng trên thế giới vẫn chưa biết, họ hằng ngày vẫn đang dùng cà-phê hiệu Nestle, Maxell, Folger…

Theo tiêu chuẩn Hội đồng cà-phê Quốc tế (ICO) quy định từ năm 2004 (Tiêu chuẩn ISO10470: 2004) thì hạt cà-phê xuất khẩu được lựa chọn bằng cách cân các hạt lỗi (hạt đen, hạt nâu và hạt vỡ) và chất lượng được quyết định bởi số lượng hạt lỗi có trong cà-phê. Cụ thể là cà-phê Arabica không được quá 86 lỗi trong 1 mẫu 300g, cà-phê Robusta không được quá 150 lỗi trên 1 mẫu 300g. Hai loại cà-phê này phải có hàm lượng ẩm không quá 8% và 12,5%. Tuy nhiên, đây vẫn là tiêu chuẩn có tính chất tự nguyện nên tất yếu dẫn đến tình trạng cà-phê chúng ta vẫn áp dụng theo tiêu chuẩn cũ để xuất khẩu.

Trước tình hình chất lượng cà-phê Việt Nam bị đánh giá thấp, chất lượng xuất khẩu không ổn định dẫn đến bị ép cấp, ép giá, làm giảm giá trị xuất khẩu, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã đưa ra tiêu chuẩn mới để đánh giá chất lượng xuất khẩu cho cà-phê Việt Nam mang tên (TCVN: 4193:2005) từ năm 2005 và yêu cầu áp dụng cho các doanh nghiệp từ niên vụ cà-phê 2006 -2007 để phù hợp với cách phân loại của Hội đồng Cà-phê thế giới, đánh dấu bước đầu “chuyên nghiệp” hóa trong việc quản lý chất lượng cà-phê xuất khẩu ở nước ta.

Cơ sở của thương hiệu

Tại hội thảo “Triển vọng thị trường, chất lượng và cơ cấu ngành hàng cà-phê 2008” do Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn tổ chức tại Hà Nội thì trong 15 năm qua, cà-phê Robusta trên thế giới đạt tốc độ tăng trưởng nhanh gấp đôi cà-phê Arabica, lượng tiêu thụ cà-phê tăng tập trung ở những nước đang phát triển và các thị trường cà-phê mới nổi. Theo Trưởng nhóm phân tích chiến lược của ICO “Việt Nam là quốc gia được công nhận có chi phí sản xuất thấp nhất nhưng cho sản lượng cao nhất trong số các nước xuất khẩu cà-phê Robusta”.

Như vậy, cà-phê Việt Nam đang đứng trước cơ hội thuận lợi để mở rộng thị trường và nâng cao sản lượng xuất khẩu. Vì vậy, những việc cần phải làm ngay đối với những nhà kinh doanh xuất khẩu cà-phê đó là phải tuân thủ những quy định của Nghị quyết 420 của ICO về chất lượng cà-phê. Nhà nước cần có quy định bổ sung mặt hàng cà-phê nằm trong danh mục bắt buộc phải kiểm tra chất lượng sản phẩm trước khi thông quan.

Nhiều chuyên gia trong lĩnh vực thương hiệu nông sản cho rằng, cơ sở của thương hiệu là vùng nguyên liệu đồng nhất, chất lượng cao và an toàn. Thực tế, hiện nay trừ vùng nguyên liệu cà-phê Ðác Lắc là tương đối lớn còn những vùng nguyên liệu cà-phê ở Ðông Nam Bộ hay Bắc Trung Bộ còn manh mún, nhỏ lẻ và chưa thật sự xây dựng được thương hiệu của mình.

Do vậy, giải pháp quy hoạch phát triển nguồn nguyên liệu hiện nay của ngành cà-phê là rất cần thiết. Ðây là những yếu tố làm tăng chất lượng của cà-phê Việt Nam. Trong thời kỳ hội nhập, với tư cách là thành viên của WTO, nông sản xuất khẩu nói chung và cà-phê xuất khẩu nói riêng sẽ có những thời cơ nhưng cũng nhiều thách thức trước các hạn định, nguyên tắc của tổ chức.

Vì vậy cần trang bị kiến thức, nâng cao năng lực hội nhập WTO cho cán bộ và nhân dân các vùng chuyên canh cà-phê để họ hiểu rõ vận hội, nắm bắt thời cơ, hạn chế nguy cơ, đẩy nhanh tốc độ phát triển ngành. Tạo điều kiện cho ngành cà-phê xuất khẩu, có những chính sách nhằm giảm thiểu rủi ro trước những biến động của thị trường.

Mặt khác, tăng cường vai trò của Hiệp hội Cà-phê – Ca cao Việt Nam để bảo vệ quyền lợi cho các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và các hộ nông dân sản xuất, kinh doanh cà-phê trong nước nhằm xây dựng thương hiệu cà-phê “made in Vietnam” uy tín trên thị trường thế giới.

Nguồn: nhandan.com.vn


Chất lượng cà phê nhân VN được cải thiện

Tháng Sáu 28, 2008

TT – Đó là nhận định của ông Pierre Schaufelberger, giám đốc điều hành Công ty Nestlé VN, tại cuộc họp báo ngày 25-6. “Tập đoàn Nestlé toàn cầu đã tăng mua cà phê VN để xuất khẩu đi khắp nơi trên thế giới với số lượng khoảng 250.000 tấn/ năm, chiếm 20-25% sản lượng cà phê nhân xuất khẩu của VN. Điều đó chứng tỏ cà phê VN ngày càng được người tiêu dùng thế giới thừa nhận”.

Lãnh đạo Nestlé VN cũng xác nhận nếu như trước đây khi thu mua cà phê nhân VN, tỉ lệ bị loại là 35% thì từ năm 2007 đến nay tỉ lệ này đã giảm xuống còn 29%.

LÊ NGUYÊN MINH


Trà hay cà phê, một phong cách sống

Tháng Sáu 3, 2008

Có một thói quen mà đa số cánh đàn ông thường mắc phải, đó là thú vui ngồi quán uống cà phê hoặc trà. Đằng sau sự lựa chọn đó là cả một phong cách sống, bởi cà phê và trà chuyển tải hình ảnh trái ngược nhau. Nhưng liệu hai thứ thức uống này có thật sự xứng đáng được ưu ái như thế?

Nghi thức uống trà
Xem tiếp…


Cà phê “Fast café”

Tháng Năm 30, 2008

Nhịp sống hiện đại, fast food giúp bạn thoả mãn nhu cầu tiện, gọn, nhẹ, vậy tại sao không thử thế nào là “fast café”? Nằm ngay gần đây thôi, bước qua đường đi, cà phê Brio ở ngay góc Thi Sách, nhỏ xíu, xinh xắn nhưng thực đơn thì vô cùng phong phú. Đặc biệt nhất là loại cà phê theo cách châu Âu bao gồm các loại cà phê Expresso với kem tươi, Expresso phủ bọt sữa, cà phê sữa Ý, hay cà phê nhiệt đới xay. Thử kêu cà phê nóng, phục vụ sẽ dọn ra một chiếc tách và bộ lọc ép cà phê theo kiểu Pháp.Trong đó cà phê bột được trộn lẫn với nước nóng, thiết bị lọc sẽ ép chặt, lọc ra nước cà phê tinh chất, đậm mà không đặc sánh, màu cà phê nâu và trong dậy lên mùi hương uống chung với sữa tươi rất tuyệt.

Nếu thật sự bạn quá bận rộn và muốn tiết kiệm thời gian thì hãy tin rằng những chiếc máy pha cà phê ở đây có thể pha cà phê nhanh hơn bất kỳ bà nội trợ nào và chiếc máy nướng sẽ làm cho chiếc bánh mì của bạn thơm giòn cực nhanh. Và như đã nói ở trên, không gian Cà phê Brio nhỏ xíu, bên trong quán chỉ có một băng dài làm bàn với những chiếc ghế cao quay ra đường, trông giống như kiểu quán bar, thế thôi. Ngoài sân có thêm mấy bộ bàn ghế cũng gọn gàng. Buổi sáng ngồi đây gọi đĩa mì Ý xốt cream hay nhâm nhi mấy lát bánh ngọt. Buổi trưa bạn có thể gọi điện thoại để tham khảo thực đơn cơm với giá 16.000 đồng, người phục vụ sẽ mang phần ăn đến văn phòng của bạn đúng giờ bạn muốn.  

A.M

 


Đắc Lắc: Công nghiệp sau thu hoạch cà phê còn nhiều bất cập

Tháng Năm 24, 2008

Tỉnh Đắc Lắc hiện có trên 175.540 ha cà phê, trong đó có 170.000 ha đang cho thu hoạch, với mỗi năm đạt sản lượng từ 400.000 tấn cà phê nhân trở lên. Thế nhưng, ngành công nghiệp sau thu hoạch cà phê của tỉnh vẫn còn nhiều bất cập, đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng cà phê nhân kém. Do chất lượng thấp, giá cà phê của Đắc Lắc nói riêng, Tây Nguyên nói chung luôn thấp hơn các nước trong khu vực từ 50 đến 70 USD/tấn, thậm chí có lúc chênh lệch này cao hơn 100 USD/tấn.

Cà phê ở tỉnh Đắc Lắc có 80% diện tích là của các nông hộ. Lâu nay, đồng bào các dân tộc sau khi thu hoạch đưa về phơi chủ yếu là trên sân đất, hoặc trên tấm bạt bằng ni lông. Một số gia đình có vốn khá hơn đầu tư mua sắm máy áp dụng phương pháp xát dập, tức là cho quả cà phê qua máy xát tươi đã được điều chỉnh làm cho quả cà phê dập ra để phơi cho mau khô (biện pháp này rút ngắn thời gian phơi từ 30 đến 40% phơi nguyên quả), sau đó cũng phơi trên sân đất hoặc trên tấm bạt ni lông. Có lúc đang phơi với số lượng cà phê lớn, trời đổ mưa, bà con chỉ dồn lại che phủ tấm bạt, thậm chí có gia đình còn để nguyên cà phê (chủ yếu là cà phê nguyên vỏ) ngay trên sân đất trong nhiều ngày dầm mưa, gây nên nấm mốc, giảm chất lượng cho cà phê.

Trong vài năm trở lại đây, các công ty, nông trường quốc doanh đã đầu tư hàng trăm tỷ đồng xây dựng sân phơi, nhà kho, cơ sở chế biến cà phê ướt theo quy trình kỹ thuật tiên tiến để góp phần nâng cao chất lượng cà phê. Riêng đối với các hộ gia đình đồng bào các dân tộc có sản xuất kinh doanh cà phê cũng đã đầu tư xây dựng sân phơi, nhà kho, cơ sở chế biến khô, chế biến ướt (xát dập quả cà phê tươi lấy cà phê nhân phơi), tuy nhiên, so với yêu cầu còn quá thấp. Do vậy, hàng năm, cứ đến mùa vụ cà phê, với sản lượng quá nhiều, không đủ sân phơi, đồng bào thường lấn chiếm lòng, lề đường, vỉa hè để phơi cà phê (vừa gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông, vừa mất mỹ quan văn minh đô thị) nên chứa nhiều rủi ro làm giảm chất lượng cà phê.

Theo ông Nguyễn Văn Thường, Trưởng phòng khoa học, Viện Khoa học Kỹ thuật nông, lâm nghiệp Tây Nguyên: một ha cà phê kinh doanh với sản phẩm chế biến khô, cần diện tích sân phơi tối thiểu 80 mét vuông, trong khi đó, một ha sân phơi được làm bằng bê tông, dày 8 đến 10 cm có giá từ 1 tỷ đồng trở lên. Nếu áp dụng phương pháp chế biến khô (phơi khô nguyên quả, sau đó đem xát khô loại bỏ vỏ, lấy phần nhân), phần tỷ trọng của sân phơi tham gia vào giá thành sẽ lớn hơn nhiều so với chế biến ướt. Ông Ama Ne, người dân tộc Êđê, ở buôn Mấp, thị trấn Ea Pốk, huyện Cư M’Gar có trồng trên hai ha cà phê, mỗi năm cho thu hoạch từ 5 đến 7 tấn cà phê nhân nói, biết chế biến ướt là có hạt cà phê đẹp, tốt, có giá bán cao hơn nhiều lần so với hái xong phơi trên nền đất, nhưng bà con ở buôn làng mình sản xuất nhỏ lẻ, lấy tiền đâu hàng tỷ đồng để làm sân phơi to, xây dựng cơ sở chế biến ướt. Muốn lắm, nhưng đành chịu thôi nhà báo ơi !.

Hiện nay, tỉnh Đắc Lắc đã khuyến khích các thành phần kinh tế trong, ngoài tỉnh đầu tư vốn xây dựng cơ sở hạ tầng sân phơi, cơ sở chế biến cà phê hiện đại để từng bước nâng cao chất lượng cà phê. Đặc biệt, tỉnh ưu tiên hỗ trợ vốn cho các hộ gia đình đồng bào các dân tộc có sản xuất kinh doanh cà phê vay vốn đầu tư xây dựng sân phơi, nhà kho, cơ sở chế biến ướt tại các cụm dân cư để nâng cao chất lượng sản phẩm cà phê nhân xuất khẩu./.

Nguồn: chebien.gov.vn


Xuất khẩu cà phê: 2 tỷ USD trong tầm tay

Tháng Năm 24, 2008

Qua phân tích, đánh giá tình hình sản xuất, tiêu thụ, thị trường cho thấy, giá cà phê sẽ tiếp tục ổn định ở mức cao nên việc đạt 2 tỷ USD cà phê xuất khẩu trong một hai năm tới là trong tầm tay.

Chủ tịch Hiệp hội Cà phê – ca cao Việt Nam Lương Văn Tự khẳng định: “Do dự báo nhu cầu cà phê thế giới cung không đủ cầu nên trong thời gian vừa qua, việc đầu cơ cà phê rất lớn, do đó giá luôn biến động, trong tuần qua vừa giảm 500 USD/tấn, nhưng hôm qua lại tăng thêm 34 USD và tăng 46 USD cho giao hàng tháng 7. Vì sự biến động rất lớn này, người trồng cà phê phải rất bình tĩnh, không được nóng vội, cung ứng đều đặn cho thị trường. Đừng thấy xuống thì bán vội mà lên thì lại muốn lên cao vót mới bán. Bán như thế, một là làm cho thị trường “lạnh” đi, hai là làm cho thị trường “nóng” lên”.

Theo dự báo, giá cà phê thế giới ở mức cao như hiện nay sẽ ổn định trong vài năm tới. Điều này được tất cả các nhà nghiên cứu chính sách, nhà quản lý, DN xuất khẩu khẳng định. Vì vậy đây chính là lý do để người dân ồ ạt phá các loại cây trồng khác chuyển sang trồng mới cà phê. Tuy nhiên ông Nesto Osorio, GĐ Điều hành Tổ chức Cà phê thế giới cho rằng, đó rất có thể là một sai lầm nghiêm trọng. 

Đại diện Braxin – đất nước đứng đầu thế giới về sản xuất và xuất khẩu cà phê, từ kinh nghiệm của mình chia sẻ rằng, hãy thận trọng. Và ông này đặt câu hỏi: “Vì sao Việt Nam đứng thứ hai thế giới về lượng cà phê xuất khẩu nhưng lại chỉ đứng thứ 5 thế giới về giá trị xuất khẩu. Nếu Việt Nam phát triển ồ ạt thì liệu chất lượng của cà phê Việt Nam có giữ được ở vị trí thứ 5 không?” 

Cho đến thời điểm này, chưa có một số liệu cụ thể nào về việc người dân đã trồng mới được bao nhiêu ha cà phê. Bộ NN-PTNT khuyến cáo, nếu dân trồng mới cà phê thì nên trồng mới cho khoảng 5-7%/năm cà phê cần phải thay thế, không nên phá các loại cây khác để trồng cà phê. Ổn định diện tích 500 ngàn ha để tập trung nâng cao chất lượng cà phê xuất khẩu. 

Tuy nhiên, có một cái khó là, việc làm ra cà phê chất lượng kém (thu hái xanh, sấy ẩu…) là thói quen của người trồng cà phê bấy lâu nay. Tiêu chuẩn cà phê Việt Nam đã được thế giới chấp nhận, bộ tiêu chuẩn mới 4193 đã ban hành nhưng xem ra việc thực thi nó là rất khó. Ông Tự cho rằng, nếu thực sự quyết tâm để thay đổi thói quan của người dân, Chính phủ phải có chính sách hỗ trợ người dân trong việc thu hoạch, phơi sấy…Thay đổi được thói quen này, chúng ta sẽ có thêm 100 triệu USD/năm. 

Hiện nay Đăklăk là tỉnh đầu tiên đưa ra các giải pháp để thay đổi thói quen về thu hoạch, phơi sấy của người dân. Giám đốc Sở Thương mại tỉnh này, ông Lý Thanh Tùng cho biết, Tỉnh uỷ và UBND tỉnh đã quyết quyết tâm rất cao, bằng việc ra quy định dân không được hái cà phê xanh và đưa ra quy chế để dân hái cà phê chín. 

Nếu các tỉnh đều thực hiện được như Đăklăk, chắc chắn giá trị thu được từ cà phê trong những năm tới không dừng lại ở con số 2 tỷ USD/năm. 

Ông Lương Văn Tự, Chủ tịch Hiêp hội Cà phê- ca cao VN: Dân có ý định trồng mới cà phê thì nên trồng ca cao thay vì cà phê. Vì nhu cầu ca cao thế giới rất lớn. Ca cao của thế giới sản xuất trong 3 năm tới, người ta đã bán hết rồi. Theo tôi, giá ca cao trong những năm tới có thể còn tăng. 

 

Nguồn: agroviet.gov.vn


Bản Đồ Cà Phê Thế Giới

Tháng Năm 24, 2008

♦ Châu Phi và phía Nam Ả Rập

• Ethiopia:
Cà phê Ethiopia có vị chua hơi gắt khá đặc trưng. Vùng Harar ở phía đông Ethiopia có một loại cà phê đặc sản – nhờ một công nghệ sấy đặc biệt – mà có mùi hoa quả chín được lên men, vị rất tinh tế. Ethiopia là nước cả xuất khẩu lẫn tiêu thụ cà phê đều đứng đầu châu Phi. Khoảng 12 triệu người Ethiopia sống nhờ thứ hạt nâu này. Ngoài Harar, một số đặc sản cà phê khác của Ethiopia là Sidamo, Yirgacheffe.

• Kenya:
Là quê hướng của một số loại cà phê căn bằng và tinh tế nhất thế giới. Nó nổi bật với vị chua đậm, sánh nước, và độ quyện của những lớp mùi, vị.

• Tazania:
Nổi tiếng với loại cà phê đậu, có hạt tròn chứ không dẹt như thông thường. Cà phê của Tazania có khuynh hướng ngậy hơn, nặng hơn của Kenya, nhưng ít tinh tế hơn.

• Yemen:
Nằm ở cực tây nam của bán đảo Ả rập. Dù cách Hara của Ethiopia cả một biển Hồng Hải nhưng độ tinh té và mùi quả chín của cà phê thì không cách nhau bao xa.

♦ Châu Mỹ

• Mexico:
Hầu hết cà phê Mexico được trồng ở phía Nam và đều có vị chua. Nó nhẹ nên rất thích hợp cho các bữa ăn sáng, nhất là của người Mỹ. Những hiệu cà phê nổi tiếng Mexico là Altura, Liquidambar MS, Pluma Coixtepec.

• Guatemala:
Người Đức có công mang cà phê đến trồng ở Guatemala nhưng cây cà phê ở đây lại ngon hơn ở Đức. Cà phê Guatemala có mùi chocolate và vị thơm hơi chua, đặc biệt là những loại được trồng trên các sườn núi lửa ở phía Nam. Bạn không cần biết tiếng Guatemala mà vẫn có thể thưởng thức cà phê hảo hạng ở xứ này. Chỉ cần nhớ tên mấy nhãn hiệu như Antigua hay Huehuêtnango là đủ.

• Nicaragua:
Ngon nhất ở Nicaragua là cà phê Sânt Lucia đến từ Mario Cerna. Cả độ ngậy, mùi chocolate và vị chua của nó đều vô cùng quyến rũ. Ngoài Mario Cerna, những vùng cà phê chính khác của Nicaragua là Matagalpa, Jinotega và Nueva Segovia.

• Costarica:
Nổi tiếng với những loại cà phê có độ sạch và cân bằng cao. Thậm chí, chúng có thể áp đặt tính cách của mình lên những người “ba phải mùi vị”. Từ thủ đô Sanjose, bạn có thể dễ dàng đi tới những vùng cà phê trứ danh như Dota, Tarrazu, Tres Rios, Heredia, Volcan Poaz nhưng bạn sẽ không dễ quên được những gì bạn đã nếm ở đó.

• Jamaica:
Là nơi sản sinh ra Blue Mountain, một trong những loại cà phê đắt nhất, và vì thế mà cũng hay bị làm giả nhất thế giới. Không thể chỉ dùng vài dòng mà nói hết được sự đặc biệt của Blue Mountain. Ngày trước, nhắc đến Jamaica là người ta nghĩ ngay tới Blue Mountain. Ngày nay, vị thế này đã bị chia sẻ bởi cà phê Puerto Rico.

• Colombia:
Ngành cà phê ở đây quan trọng đến mức bất cứ xe nào quá cảnh vào đất nước này đều phải xịt thuốc cho tiệt vi khuẩn. Nhờ có khí hậu ẩm và vị trí khá cao so với mực nước biển, nhát là ở vùng núi Andes, cà phê Colombia tha hồ “làm vương làm tướng” so với các cây trông khác. Nhưng thương hiệu cà phê hàng đầu như Medellin, Supremo, Bogota… ngon không kém loại hảo hảng của Costa Rica, nhưng nhẹ và dịu hơn.

• Venezuela:
Cà phê nổi tiếng nước này là Maracaibo, lây theo tên cảng chuyên chở cà phê. Kém hơn một chút là Tachira và Cucuta (gần biên giới Colombia) – có mùi vị cũng giống cà phê của nước láng giềng – và Menda, có vị ngọt, ít chua hơn.

• Brazil:

Nhiều người nghĩ rằng cà phê của Brazil – nước xuất khẩu cà phê số 1 thế giới – là một dạng lấy lượng bù chất. Sự thực không phải thế, đất nước Nam Mỹ này có những loại cà phê tuyệt không kém gì bóng đá. Ví dụ như Bahia hay Bourbon Santos. Bihia là nơi Brazil sinh ra, còn Santos là nơi mà Brazil nổi tiếng nhờ cà phê.

• Hawai:
Vùng Kona nằm trên đảo Hawail là nơi sản xuất ra một số loại cà phê đắt nhất thế giới. Mặc dù được trồng ở độ thấp nhưng cà phê Kona ngon không kém những loại tuyệt hảo, chỉ chịu ra quả ở độ cao 3000m trở lên. Cả độ chua, hương thơm mùi rượu vang lẫn vị của cà phê Kona đều trên cả tuyệt vời.

♦ Châu Á

• Viet Nam:

Cà phê là một trong những tàn tích dễ chịu nhất từ những năm đô hộ của người Pháp. Giữa những năm 1860, nó chỉ thơm ở mấy biệt thự Tây của Hà Nội. Tới 150 năm sau, Việt Nam đã là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trên thế giới, chỉ sau Brazil. Nhưng nếu so bì về chất lượng, Việt Nam có lẽ đứng ở hàng thứ mấy chục. Thương hiệu tạm gọi “có tiếng” là Trung Nguyên, Thu Hà. Trên thế giới, cà phê Việt Nam bị xếp vào loại rẻ tiền. Hy vọng điều này sẽ được thay đổi trong tương lai.

• Indonesia:
Là quê hương của một số loại cà phê trứ danh. Cà phê Sumatran béo ngậy, đen giòn và đâm đặc. Nó là Barolos (một loại rượu vang hảo hạng) của thế giới cà phê. Cà phê Sulawesi(trước là Celebes), cân bằng hơn, độ chua dịu và nhẹ hơn, cũng là “Thuý Vân, Thuý Kiều với Sumatran. Còn cà phê Java thì có hương của kem béo, cân bằng cả về vị và độ chua.

• Ấn Độ:
Nói đến cà phê của đất nước sông Hằng là người ta nhớ tới Moonsooned Malabar. Nhưng gần đây, cũng có một số loại ngon không kém, đậm vị mà dịu chua, đến từ vùng núi cao phía Nam như Baba Budan, Nilgiis hay Sheyaroy.

Y5Cafe