Phát hiện quần thể trà hoa vàng quý hiếm

Tháng Chín 24, 2008

Các nhà khoa học Việt Nam vừa phát hiện một quần thể trà hoa vàng, loài cây có giá trị kinh tế và y dược cao rất quý hiếm tại một cánh rừng thuộc thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.

Đây là quần thể trà hoa vàng thứ ba được phát hiện tại tỉnh Lâm Đồng, sau hai quần thể trà hoa vàng ở huyện Đạ Huoai và Vườn quốc gia Cát Tiên. Những phát hiện này có ý nghĩa lớn đối với công tác bảo tồn loài này vì trà hoa vàng là loài quý hiếm, có giá trị y dược cao.

Theo TS. Trần Ninh, ĐHKH Tự nhiên – ĐHQGHN, Camellia Dormoyana – loài trà hoa vàng đầu tiên của thế giới được phát hiện ở Lâm Đồng vào đầu hế kỷ XX. Được biết, trà hoa vàng mới chỉ được phát hiện ở Việt Nam và Trung Quốc. Hiện nay, Trung Quốc đã xây dựng Vườn Camellia Quốc tế; trồng nhân tạo vùng trà hoa vàng nguyên liệu rộng hàng chục hécta; nghiên cứu thành công các chế phẩm và sản xuất, xuất khẩu hàng loạt dược liệu và thực phẩm chức năng làm từ trà hoa vàng như Superior tea, Golden Camellia… Một chai Golden Camellia trị giá khoảng 4,76 triệu đồng Việt Nam.

Xem tiếp…

Advertisements

Trà hay cà phê, một phong cách sống

Tháng Sáu 3, 2008

Có một thói quen mà đa số cánh đàn ông thường mắc phải, đó là thú vui ngồi quán uống cà phê hoặc trà. Đằng sau sự lựa chọn đó là cả một phong cách sống, bởi cà phê và trà chuyển tải hình ảnh trái ngược nhau. Nhưng liệu hai thứ thức uống này có thật sự xứng đáng được ưu ái như thế?

Nghi thức uống trà
Xem tiếp…


Bốn mùa ướp trà hương

Tháng Năm 27, 2008

 

Gần Tết, nhà nào cũng bận rộn chuẩn bị sắm sanh, riêng nhà tôi lại đông vui hơn, bởi rất nhiều khách của nội. Nội ngoài 80 rồi, lưng còng, tay lần tràng hạt, nhưng trên gương mặt còn phảng phất chút đài các của một người gốc Hà thành. Nội còn minh mẫn lắm, nội bảo đó là nhờ cái nghề ướp trà, tỉ mẩn đong với đếm.

Nội hay kể chuyện từ đầu thế kỷ trước. Ngày ấy, tóc tết bím, lon ton theo mẹ ướp sen, ướp nhài hầu các cụ dùng trà mỗi dịp lễ Tết, chẳng ngờ, cái công việc tưởng như sinh hoạt hàng ngày đó lại trở thành một nghề theo nội suốt cả cuộc đời.

Chiến tranh, ly tán, vật đổi sao dời, bao nhiêu thăng trầm của người Hà Nội một thời, nội và cả gia đình đều nếm trải. Ra đi vào mùa thu, trở về cũng nhằm khi lá rụng. Nhưng trong suốt những năm tháng lưu chuyển ấy, chưa khi nào nội ngưng ướp trà như một duyên phận. Cho đến ngày nghỉ hưu, nghe lời các cô bác, nội mới chính thức làm nghề để bán.

Ngót nghét 30 năm ướp trà nhưng hầu như không mấy ai biết đến nội. Một phần vì tính nội lặng lẽ, một phần vì nội chỉ làm để bán cho khách quen.

Hàng năm, đến độ tháng tư âm lịch, nội bắt đầu ướp sen, vừa khi những cơn mưa phùn đã tạnh hẳn, cũng không còn rét nàng Bân trên phố. Nội đặt hàng người ta lấy hoa ở gần Đầu Đầm – Hồ Tây. Mỗi lần nội chỉ lấy vài trăm bông, làm xong, 3 ngày sau mới lấy tiếp để đảm bảo độ tươi. Mà nhất định phải là những bông kép gọi là sen trăm cánh, bông đơn gọi là quỳ không dùng được. Cũng không phải thả cánh hoa vào trà rồi ướp như nhiều người lầm tưởng mà phải lấy cái tinh tuý nhất là nhuỵ trắng trên các tua sen, nhỏ li ti gọi là gạo sen. Mấy đứa cháu tụi tôi lại xúm vào giúp nội. Nếu 2 người làm cẩn thận cũng phải mất cả buổi sáng để nhặt được 3 lạng gạo sen từ 300 bông hoa tươi.

Nội bảo, sen có thể ướp với trà Thái Nguyên, nhưng tốt hơn là dùng trà cánh dài, lấy từ những cây chè cổ thụ trên núi cao, tận Hà Giang. Và thế là cứ 1 cân trà rắc 2 lạng gạo sen, đem ủ cho cánh trà hút hết vị hoa còn tươi ướt, rồi sấy cách thuỷ đến đủ độ khô. Hết một lượt như vậy mất 3 ngày, lại đem ra tiếp tục rắc gạo, thêm trà, ủ, sấy cho đến khi xong một mẻ 7 cân trà với 1 cân tư gạo sen. Nếu người khác chỉ ướp có 5 lần hoặc làm với số lượng lớn một lúc thì nội cứ nhất nhất phải 7 lượt và 21 ngày mới trọn một mẻ. Bởi vậy, trà của nội có hương vị đậm hơn hẳn những nơi khác, uống đến nước thứ ba cũng bằng người ta pha nước đầu.

Xen giữa mùa ướp sen, tuần đầu tháng 3, tháng 7, nội lại chuyển sang ướp nhài, tuy có đơn giản hơn một chút, nhưng không kém phần công phu. Mỗi ngày nội lấy nửa cân nụ nhài, phải lấy vào buổi chiều mới đạt hương, đem về nhặt cuống rồi thả vào túi ni lông ủ nóng, đến khi nụ hoa nở bông to nhất, thơm nhất mới đem rắc 1 cân trà với 2 lạng rưỡi hoa. Rồi cũng ủ với sấy, sau 4 lượt như vậy mới xong một mẻ.

Mỗi năm, nội ướp độ 1 yến từng loại, cũng để được ít tiền, khỏi phải nhờ con cháu. Lũ chúng tôi cũng được nội trả “lương” nhặt gạo sen hay nụ hoa nhài, có vài đồng nhét lợn đất hoặc mua pháo tép đốt chơi, vui đáo để.

Trà của nội không có thương hiệu, cũng không đóng gói, dán nhãn. Nội đặt người ta làm mấy cái túi nhỏ bằng bàn tay, vừa đủ đong từng lạng. Ai mua nhiều hơn thì có túi nilông hoặc thậm chí gói bằng giấy báo. Nhiều đại lý mua lại trà của nội, mang về pha thêm, 1 cân thành cân rưỡi, khách vẫn mua đều đều. Nội dạy, mình làm túc tắc để giữ cái nghề tổ tiên truyền lại, đừng có làm dối mà phải tội.

Chúng tôi nghiện uống trà từ nhỏ, vì mỗi lần xong một mẻ, nội lại cho nếm thử. Lâu dần, mấy anh chị em trong gia đình đều có thể phân biệt được độ đậm nhạt của hương, của mấy lần tuần trà.

Trà nhài uống hợp nhất vào mùa hè, hoặc đầu thu. Chỉ một ngụm cũng đủ khiến tâm hồn mát rượi, sảng khoái, tinh khôi. Trà sen thì hợp nhất từ khi sắp sang đông cho đến cả mùa xuân, đón Tết.

 Một hớp hương sen làm ấm lòng người, cảm giác thư thái, khoan dung và thanh tao lạ thường. Khách đến chơi, đảm bảo lưu luyến hương vị trà không muốn về. Nội dặn, riêng với trà sen chớ ăn kèm bất kỳ món gì kẻo mất vị; khi chế, phải pha vào ấm nhỏ, đặt trong một bát nước sôi để mùi hương toả ra cả bên ngoài, thơm ngát…

Niềm vui của nội là mỗi lần có khách đến chơi, uống thử và gật gù khen thích thú. Nội càng vui hơn khi con cái, cháu chắt quây quần bên nội ăn một bữa đoàn viên mỗi chiều chủ nhật. Rồi những đêm rằm Trung thu, cả nhà ngồi đón trăng trên sân thượng, ăn bánh phá cỗ và nhâm nhi tách trà nhài vừa ấm, vừa thanh.

Tết này, nội lại sửa soạn mấy lạng trà sen đem biếu nhà chùa, với một tâm niệm giản dị và mộc mạc như chính con người nội, với một niềm tin ở đất trời, ở lòng người đang độ khai xuân.

Anh Đức – Ảnh Trần Việt Đức


Uống trà ở Long Tĩnh

Tháng Năm 17, 2008

Từ thời cổ đại, người Trung Quốc đã biết uống trà. Ngày nay, trà đã trở thành thức uống phổ biến trên toàn thế giới, được xem là thứ giải khát rất tốt, có tác dụng ngừa và chữa được nhiều bệnh.

Tác giả trước tượng Trà thánh Lục Vũ

Trung Quốc có nhiều loại trà, trong đó có 4 loại nổi tiếng nhất: trà Long Tĩnh (ở tỉnh Triết Giang), trà Ô Long, trà Thiết Quan Âm (ở tỉnh Phúc Kiến), trà Phổ Nhĩ (ở tỉnh Vân Nam). Trong các loại danh trà kể trên, trà Long Tĩnh được đánh giá cao nhất, có giá trị dinh dưỡng cao, hương vị thơm và đậm, xưa kia các bậc vua chúa và quý tộc Trung Quốc thích dùng nhất loại trà này.

Một buổi sáng mùa thu, chúng tôi rời thành phố Hoàng Châu (thủ phủ tỉnh Triết Giang) đến thăm thôn Long Tĩnh, nơi tập trung nhất ở Trung Quốc trồng loại trà nổi tiếng này. Long Tĩnh nằm ở ngoại ô phía tây nam Hoàng Châu, đi xe chỉ độ 15 phút là đến. Đây là một vùng đồi núi, chen lẫn vào giữa là những cánh đồng nhỏ trồng cây trà. Hai bên đường đi vào trung tâm thôn Long Tĩnh, có rất nhiều trà thất, trà quán, xen lẫn những ngôi nhà rất khang trang, gần như những biệt thự nho nhỏ. Hỏi ra mới biết đó là nhà của những nông hộ trồng trà. Bên cạnh những ngôi nhà hoàn chỉnh, người ta còn đang xây tiếp những ngôi nhà khác. Nông dân trồng trà ở Long Tĩnh thuộc loại giàu có ở Trung Quốc. Trà Long Tĩnh vừa đắt tiền vừa được tiêu thụ rộng rãi ở Trung Quốc và trên thế giới.

Trà Thánh của Trung Quốc

Du khách đến Long Tĩnh, nơi đến thăm chủ yếu là trà thất của Mai gia (gia tộc họ Mai). Đây là một khu rộng lớn, gồm nhiều nhà ngang dãy dọc, có bãi đậu xe, kho dự trữ, nơi tiếp khách, quán uống trà. Đứng trước cửa trà thất, có thể nhìn bao quát cả phong cảnh chung quanh, những cánh đồng trà từ chân đồi lên đến các sườn đồi thoai thoải, đằng sau là những dãy núi mờ ảo trong sương sớm. Phong cảnh đúng như trong những bức tranh thuỷ mặc của Trung Hoa.

Bước vào khuôn viên trà thất, đập vào mắt du khách là một bức tượng đồng sừng sững ở giữa sân, với dòng chữ khắc ở bệ pho tượng: Trà Thánh Lục Vũ. Nói đến văn hoá trà, không thể không nhắc đến Lục Vũ. Ông là người đọc nhiều, hiểu xa, giao du rộng rãi, xuất du nhiều lần ở lưu vực sông Hoài và hạ lưu sông Trường Giang, đặc biệt là những vùng nổi tiếng về sản xuất trà tại miền đông Triết Giang (trong đó có Long Tĩnh). Ông nghiên cứu khảo sát tỉ mỉ cách trồng trọt, bảo dưỡng, hái trà, cách sao chế và nghệ thuật uống trà. Từ quá trình khảo sát đó, ông viết cuốn Trà kinh, được đánh giá là bộ sách về trà hoàn bị nhất của Trung Quốc và cũng là bộ sách chuyên môn về trà đầu tiên trên thế giới.

Ngoài quyển Trà kinh, Lục Vũ còn viết cuốn Trà ký và cuốn Cổ chữ sơn ký (nội dung phần lớn liên quan đến trà). Tiếc rằng hai bộ sách này đã thất lạc, chỉ có Trà kinh là còn lại đến ngày nay.

Từ hơn nghìn năm nay, phong cách uống trà do Lục Vũ đề xướng đã được phổ biến khắp Trung Quốc. Các trà quán, trà thất đều thờ phụng ông, tôn ông là trà thánh, trà thần, trà tiên.

Nghệ thuật uống trà Long Tĩnh

Chúng tôi được hướng dẫn vào một phòng trà, ngồi chung quanh một bàn hình bầu dục. Hai cô nhân viên xinh đẹp tiếp chúng tôi, một cô pha trà mời khách, một cô giới thiệu đặc tính của trà Long Tĩnh và cách pha trà.

Trà được cho vào từng cốc, lần đầu chỉ rót một ít nước (chỉ nóng 80 độ), sau đó mới rót đầy cốc – cách rót cũng đặc biệt. Cô thiếu nữ Trung Quốc cầm chiếc ấm nước rót vào cốc, nhưng khi rót nhún lên nhún xuống đến ba lần, mục đích là để đảo trà cho đều, nếu không khéo tay thì nước nóng có thể văng tung toé trên bàn. Năm phút sau, mới lấy nắp đậy lên cốc. Để tỏ ý cám ơn người pha trà, trước khi uống, nên lấy hai ngón tay trỏ và giữa gõ lên cốc ba lần.

Điều đáng chú ý là người Trung Quốc không uống trà đặc như ở Việt Nam. Họ cho rằng uống trà đặc sẽ dẫn đến sự hưng phấn quá độ ở đại não, làm cho nhịp tim tăng nhanh và do đó không lợi cho sức khoẻ.

Cô thuyết minh còn cho biết trà Long Tĩnh có nhiều loại, loại rẻ tiền nhất là trà lão bà có thể hái vào bất cứ giờ nào trong ngày, còn quý nhất là trà cô nương, chỉ hái vào lúc 2 – 3 giờ đêm. Theo lời cô, trà Long Tĩnh có thể giữ được một năm rưỡi, còn nếu để trong tủ lạnh có thể giữ được ba năm.

Cũng giống như trà Ô Long, trà Long Tĩnh có thể pha năm lần mà vẫn còn hương vị. Chúng tôi lấy trà khô chưa pha cho vào mồm nhai thử, thấy rất dễ ăn, vừa thơm vừa ngọt, giòn tan trong miệng, nuốt vào rồi mà hương vị còn đọng ở cổ họng rất lâu.

Trần Vĩnh An