Nóc nhà Việt Nam đỉnh núi Phanxipăng

Tháng Sáu 27, 2008

Đỉnh núi Phanxiphăng cao 3143m (so với mặt nước biển), được mệnh danh là “nóc nhà Việt Nam và nóc nhà các nước Đông Dương”. Giới trẻ nước ta hiện nay cùng với không ít công dân mạng toàn cầu đang tích cực tham gia bình chọn đỉnh núi Phanxipăng và danh thắng động Phong Nha – Kẻ Bàng của Việt Nam trở thành một trong 7 di sản thiên nhiên thế giới. Hiện nay, leo núi, chinh phục đỉnh Phanxipăng đang được nhiều du khách đến Sa Pa lựa chọn.

Rừng nguyên sinh trong Vườn Quốc gia Hoàng Liên, dưới chân đỉnh núi Phanxipăng


Xem tiếp…


Chè Việt Nam “ăn xổi” đến bao giờ?

Tháng Năm 24, 2008

Mới đây, Hiệp hội Chè Việt Nam đã đưa ra cảnh báo khả năng ngành chè mất thị trường EU sau khi Anh và nhiều nước châu Âu đưa ra thông báo báo về việc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm chè xuất khẩu vượt ngưỡng cho phép nhiều lần.

Một lần nữa, câu chuyện về chất lượng của các sản phẩm chè lại được nói đến như hệ quả của sự mất cân đối giữa sự phát triển ồ ạt của các cơ sở chế biến chè dẫn đến việc khai thác cạn kiệt các vùng nguyên liệu. Tình trạng cũng sẽ đe dọa không nhỏ đến mục tiêu tăng kim ngạch xuất khẩu của ngành chè đạt khoảng 18-20%, tương đương 140 triệu USD trong năm 2007.

Chỉ tính riêng các doanh nghiệp chế biến chè chúng ta có 650 cơ sở công nghiệp với tổng công suất trên 3.100 tấn búp tươi/ngày. Với sản lượng 546.000 tấn chè búp tươi năm 2005 chỉ đáp ứng được khoảng 88% nhu cầu nguyên liệu chè búp của các cơ sở chế biến này.

Ngoài ra còn có hàng trăm cơ sở chế biến chè thủ công bán công nghiệp cùng tham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế và nhiều cơ sở đấu trộn ướp hương đóng gói chè. Do thiếu nguyên liệu nên nhiều cơ sở không quan tâm đến chất lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên chè, giá cả thu mua không hợp lý nên không khuyến khích người sản xuất coi trọng chất lượng nguyên liệu, thiếu chăm sóc vườn chè đúng quy cách, dẫn đến năng suất chè bình quân của cả nước chỉ đạt 5,7 tấn/ha (mà nếu chăm sóc tốt nhiều vườn chè cho năng suất 20-25 tấn/ha.

Bên cạnh đó, trang thiết bị công nghệ chế biến lạc hậu nên hầu hết chè Việt Nam được xuất khẩu ở dạng nguyên liệu, chè thành phẩm mới chỉ chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu, chè nguyên liệu chiếm xấp xỉ 80%.

Một số lãnh đạo quản lý ngành chè lại có quan điểm giá tăng như vậy thì nông dân sẽ được lợi, nhưng về lâu dài, theo các chuyên gia trong ngành, khi giá đẩy lên thì chất lượng chè kém đi. Khi hái chè, thông thường người trồng chè chỉ ngắt một búp, 2 lá, nhưng bây giờ họ dùng liềm cắt cành dài khiến cây chè bị tổn thương, khó có thể khôi phục vườn chè nhanh được.

Chất lượng chè kém đi thì xuất khẩu sẽ giảm sút. Với cơ cấu trên 2/3 sản lượng chè được sản xuất dành cho xuất khẩu, trong khi chỉ có non 1/3 tiêu dùng trong nước. Chính vì thế, khi kim ngạch xuất khẩu giảm tất yếu sẽ dẫn đến chuyện đình đốn trong sản xuất

Phó chủ tịch Hiệp hội Chè Nguyễn Văn Thụ cho biết, đã có những lô chè người dân phải bỏ làm phân bón, do không bán được. Tuy nhiên, phần lớn sự suy giảm chất lượng, giá bán của chè là do các doanh nghiệp Việt Nam tự “phá” nhau bằng cách nâng giá mua của người nông dân đồng thời lại giảm giá bán cho đối tác nước ngoài.

Chẳng vậy mà, nếu như trước đây giá xuất khẩu 1kg chè khô vào Anh đạt 1,8-2 USD/kg, thì nay chỉ còn có 1,1-1,2 USD/kg, với khối lượng xuất khẩu 100.000 tấn chè/năm thì ngành chè đã bị thiệt hại 70 triệu USD. Trong khi đó, ở Việt Nam cũng có nhiều nơi xuất bán được chè với giá cao như Đình Lập (Lạng Sơn): 8 USD/kg, Phú Bền (Phú Thọ): 1,8-2 USD/kg, Mộc Châu (Sơn La): 7 USD/kg… Một nguyên nhân quan trọng khiến ngành chè của Việt Nam rơi vào tình trạng “lẹt đẹt” như hiện nay là thương hiệu của chúng ta quá yếu, mặc dù thương hiệu quốc gia cho chè đã có với tên “CHEVIET”.

Trước yêu cầu đảm bảo an toàn vệ sinh, cũng như mong muốn nâng cao chất lượng chè, qua đó tạo ra những giá trị gia tăng lớn hơn cho ngành chè Việt Nam, tuần qua, Hiệp hội Chè Việt Nam đã họp bàn với đại diện lãnh đạo hai tỉnh Yên Bái và Hà Giang nhằm thông báo tình hình thị trường, đồng thời yêu cầu cơ quan quản lý ở địa phương vào cuộc, đi kiểm tra, kiểm soát các doanh nghiệp sản xuất, nếu thấy không đủ điều kiện thì cho dừng sản xuất lại.

Theo ông Nguyễn Văn Thụ, tới đây, Hiệp hội Chè Việt Nam đã có chương trình đi tới 35/35 tỉnh, thành phố đang trồng chè nhằm gặp gỡ các nhà quản lý, các doanh nghiệp để cảnh báo, thông báo tình hình và đề ra những biện pháp cứng rắn.

Cụ thể, vừa qua, tỉnh Yên Bái đã thành lập đoàn đi kiểm tra, gồm Sở Nông nghiệp, Thương mại, Y tế, Khoa học và Công nghệ, Quản lý thị trường đến kiểm tra tất cả những cơ sở sản xuất, nếu không đảm bảo chất lượng, không đảm bảo vệ sinh an toàn, thì đình sản xuất lại, không cho kinh doanh, tịch thu những sản phẩm có dư lượng thuốc trừ sâu quá cao ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Để giải quyết triệt để được vấn đề trên phải thực hiện ngay bốn giải pháp là: đối với doanh nghiệp không làm, không bán chè xấu, còn người tiêu dùng thì không mua chè xấu, trong khi đó Nhà nước phải cấm lưu thông chè xấu trên thị trường, nếu phát hiện chè kém chất lượng nên cho tiêu huỷ ngay.

Ông Nguyễn Văn Thụ cho biết: “Chúng tôi đang lập danh sách những cơ sở đủ tiêu chuẩn kiểm tra, kiểm soát chất lượng chè xuất khẩu để loại bỏ tất cả những lô chè không đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, ngay cả lượng chè phơi như… rơm rạ trên đường phải được tịch thu và tiêu huỷ”.

 

Nguồn tin: VNeconomy


Nguy cơ mất thị trường của ngành chè

Tháng Năm 24, 2008

Mới đây, Hiệp hội Chè Việt Nam (Vinatea) đã đưa ra cảnh báo khả năng ngành chè mất thị trường EU sau khi khách hàng ở Anh và nhiều nước châu Âu có thông báo về việc dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong các sản phẩm chè xuất khẩu vượt ngưỡng cho phép nhiều lần.

Ngoài ra còn một thực tế là nhiều năm nay ngành chè nước ta vẫn phải chấp nhận giá chè xuất khẩu thấp hơn giá chè quốc tế từ 0,5 đến 0,7 USD/kg (chỉ bằng 65% – 70% giá chè xuất khẩu của nhiều nước). Trong những tháng đầu năm nay, giá chè xuất khẩu chỉ đạt bình quân khoảng 1.006 USD/tấn, giảm 4,6% so với mức giá bình quân của cả năm 2006 (1.062 USD/tấn).

Vinatea cho rằng, giá chè xuất khẩu giảm và nguy cơ mất thị trường một phần do mạng lưới cơ sở chế biến chè phát triển quá nhanh và mang tính tự phát, không tương xứng với vùng nguyên liệu. Theo ông Nguyễn Kim Phong, Chủ tịch Vinatea, chỉ tính riêng các doanh nghiệp chế biến chè đã có trên 600 cơ sở công nghiệp với tổng công suất trên 3.100 tấn búp tươi/ngày (trên 600 nghìn tấn búp tươi/năm). Với sản lượng 546.000 tấn chè búp tươi năm 2005 chỉ đáp ứng được khoảng 88% nhu cầu nguyên liệu chè búp của các cơ sở chế biến công nghiệp. Chưa kể đến hàng trăm cơ sở chế biến chè thủ công, bán công nghiệp cùng tham gia thu mua nguyên liệu để sơ chế.

Do thiếu nguyên liệu nhiều cơ sở không quan tâm đến kiểm soát chặt chất lượng nguyên liệu đầu vào, đặc biệt là kiểm soát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật; Giá cả thu mua không hợp lý nên không khuyến khích người sản xuất coi trọng chất lượng nguyên liệu, thiếu chăm sóc dẫn đến năng suất chè bình quân của cả nước chỉ đạt 5,7 tấn/ha trong khi nếu chăm sóc tốt, nhiều vườn chè cho năng suất 20-25 tấn/ha. Bên cạnh đó, trang thiết bị công nghệ chế biến lạc hậu nên hầu hết chè Việt Nam được xuất khẩu ở dạng nguyên liệu, chè thành phẩm mới chỉ chiếm 7% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Vinatea cho rằng, sản xuất chè hiện vẫn chưa đáp ứng được đầy đủ 2 yêu cầu quan trọng hàng đầu là độ đồng đều của chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn thế giới. Thêm vào đó, quá trình đổi mới giống chè diễn ra quá chậm, 74% diện tích hiện được trồng bằng giống chè của các địa phương, chỉ có 26% diện tích được trồng giống mới (trong đó giống chè chất lượng cao chỉ chiếm 7%) cũng là nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng chè nước ta.

Phát triển thương hiệu chè Việt Nam an toàn trên cơ sở những vùng nguyên liệu sạch, bảo đảm các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của châu Âu, Nhật Bản là mục tiêu của doanh nghiệp chè Việt Nam trong thời gian tới. Bộ NN và PTNT đã có Chương trình hiện đại hóa ngành chè với kinh phí đầu tư trên 420 tỷ đồng tập trung đầu tư cho giống chè, xây dựng các mô hình chế biến chè chất lượng cao. Bên cạnh đó, theo Vinatea, việc quy hoạch các cơ sở chế biến công nghiệp phải gắn chặt với vùng chè, khắc phục tình trạng thừa nhà máy, thiếu nguyên liệu như hiện nay. Ngoài ra, cần khuyến khích các doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào những vùng chè chủ lực, chuyển giao công nghệ chế biến theo tiêu chuẩn của những thị trường khó tính như châu Âu, Mỹ, Nhật Bản… Đây được coi là những giải pháp hữu hiệu nhằm nâng giá chè xuất khẩu và giúp ngành chè tránh khỏi nguy cơ mất thị trường.

Theo http://www.baothuongmai.com.vn


FAO đánh giá cao VN mở rộng diện tích trồng chè

Tháng Năm 24, 2008

Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) đánh giá cao chương trình mở rộng diện tích trồng chè của Việt Nam và cho rằng việc tăng sản lượng chè của Việt Nam góp phần làm giảm căng thẳng về nguồn cung chè trên thế giới.

 

Theo số liệu mới nhất của FAO, sản lượng chè của Việt Nam năm 2006 đã tăng ở mức kỷ lục 28%, lên 133.000 tấn. FAO đã đánh giá cao các chương trình mở rộng diện tích trồng chè của Việt Nam tới những vùng mà trước đây người dân chỉ sử dụng để trồng cây thuốc phiện.

Báo cáo của FAO về xu hướng thị trường chè thế giới, chuẩn bị cho Diễn đàn Chè Toàn cầu 2008 dự kiến diễn ra ở Đubai từ ngày 19 đến 20/2, cho biết giá chè trên thị trường thế giới sẽ tiếp tục tăng trong năm 2008, do nguồn cung hạn chế. Chỉ số giá chè tổng hợp của FAO đã tăng 11,6%, lên 1,83 USD/kg trong năm 2006, và tăng 6,5%, lên 1,95 USD/kg trong năm 2007.

FAO cho rằng xu hướng giá chè tăng lên này sẽ tiếp tục vì sản lượng chè của Kênia có thể giảm 10% do tình hình bất ổn hiện nay. Tuy nhiên sản lượng chè của Ấn Độ, Trung Quốc và Việt Nam tăng lên đang góp phần xoa dịu căng thẳng về nguồn cung trên thị trường thế giới.

Theo FAO, khối lượng chè giao dịch trên thị trường thế giới về cơ bản ổn định ở mức 1,55 triệu tấn trong năm nay, trong đó chè xuất khẩu của Xri Lanca, Ấn Độ và Việt Nam tăng lên, trong khi xuất khẩu của Kênia và Inđônêxia giảm sút./.

Nguồn: http://thongtinthuongmaivietnam.vn